Menu Begood Subbing Team

Phim Lẻ (52 video - 0 phim)

Cập nhật mới nhất 01/01/1970 08:00

When Harry Met Sally – Khi Harry Gặp Sally

5731

When Harry Met Sally… (tạm dịch: Khi Harry gặp Sally…) là một bộ phim hài kịch lãng mạn của Hoa Kỳ năm 1989 do Nora Ephron viết kịch bản và Rob Reiner đạo diễn. Phim xoay quanh câu chuyện của hai nhân vật Harry (Billy Crystal) và Sally (Meg Ryan) từ lần gặp mặt đầu tiên của họ trong chuyến đi dọc đất nước cho đến mối quan hệ tình cảm giữa hai người 12 năm sau đó. Những phim tình cảm lãng mạn thường tin vào “Tình yêu sét đánh”. Chàng và nàng mới chạm mặt nhau đã ngay lập tức nhận ra rằng mình không thể sống thiếu người kia. Điều đó không đúng với hai nhân vật chính của When Harry Met Sally khi họ ghét nhau từ cái nhìn đầu tiên. Mùa xuân năm 1979, Harry đi nhờ xe của Sally từ Chicago đến New York. Suốt dọc đường họ tranh cãi về đủ thứ: cuộc sống, tình dục, phim Casablanca… Harry là tuýp người phóng túng, thích áp đặt suy nghĩ của mình lên người khác. Trong khi Sally khăng khăng rằng đàn ông và đàn bà có thể trở thành bạn bè bình thường mà không có quan hệ tình cảm còn Harry cương quyết: “Nam và nữ không thể là bạn bởi vì sex luôn ngáng đường”. Phim đặt nên câu hỏi “Liệu phụ nữ và đàn ông có thể chỉ là bạn bè?” và đề cập đến nhiều ý tưởng về mối quan hệ tình cảm quen thuộc trong đời sống. Phim bắt nguồn từ lúc Reiner trở lại cuộc sống độc thân sau khi ly hôn, tạo nên nền tảng cho nhân vật Harry, trong khi Sally dựa trên Ephron và một vài người bạn của bà ngoài đời thực. Harry ám ảnh về cái chết đến nỗi nếu tình cờ mua một cuốn sách mới, anh luôn đọc trang cuối trước. Anh phân bua làm vậy để lỡ may nếu có chết trước khi đọc xong, anh cũng yên tâm vì đã biết hồi kết. Sally thì nguyên tắc và bướng bỉnh. Cô lúc nào cũng muốn mọi chuyện phải đâu ra đấy. Đến New York, cả hai chia tay trong gượng gạo. Sally đứng chống nạnh, khuôn mặt hếch lên, bắt tay Harry đầy khách sáo, cô không hề có ý định gặp lại anh một lần nữa. Billy Crystal bắt tay vào dự án và có đóng góp vào phần kịch bản, mang tính hài hước cho nhân vật Harry. Ephron dựng nên cấu trúc cho bộ phim, với lời thoại dựa trên tình bạn ngoài đời giữa Reiner và Crystal. Khán giả sẽ gặp những cảnh buồn cười như khi Sally hăng hái đọc bảng phân công lái xe thì Harry thờ ơ phun phì phì hạt nho qua cửa sổ. Khi Sally nhăn trán, tính toán tỉ mỉ tiền bữa ăn thì Harry, với khuôn mặt không thể chán chường hơn, ngồi điềm nhiên xỉa răng. 5 năm sau, họ tình cờ gặp lại tại sân bay. Harry lúc này sắp sửa kết hôn còn Sally đang hạnh phúc trong tình yêu mới. Họ tranh cãi suốt chuyến bay rồi lại đường ai nấy đi. 5 năm nữa lại trôi qua, Harry bị vợ cắm sừng và đang hoàn thành thủ tục ly dị. Sally cũng vừa chia tay với bạn trai. Trong lần gặp nhau này, hai người quyết định trở thành bạn bè sau cuộc nói chuyện về những mối quan hệ cũ của nhau tại quán cà phê. Khi hai người gặp lại, nhanh chóng trở thành bạn thân nhất và như kết cục dễ đoán của một phim tình cảm, họ yêu nhau từ lúc nào không hay… Nhạc phim chứa nhiều bản nhạc do Harry Connick, Jr trình bày, với ban nhạc và dàn hòa tấu được Marc Shaiman điều khiển, giúp Connick giành giải Grammy cho “Trình diễn giọng nam jazz xuất sắc nhất”. Columbia Pictures phát hành bộ phim thông qua kỹ thuật “nền tảng”—hãng công bố phim tại nhiều thành phố chọn lọc, sau đó tạo nên sức hút bằng những lời truyền miệng và sau cùng ra mắt mở rộng trong nhiều tuần. When Harry Met Sally hấp dẫn khán giả trước tiên ở sự nhập vai xuất sắc của Billy Crystal trong vai Harry và Meg Ryan trong vai Sally. Cả hai kiểm soát vai diễn tốt đến nỗi diễn mà như không diễn. Với điệu cười tít mắt, đôi môi cong lên như thể đang chờ một nụ hôn và lối nghếch cằm như thể một cô bé con được chiều, Meg Ryan thực sự tỏa sáng trong từng khoảnh khắc xuất hiện trên màn ảnh. Harry trong diễn xuất của Billy Crystal ban đầu phim xuất hiện với hình ảnh một anh chàng thô lỗ, luộm thuộm và có phần đáng ghét, song càng về cuối phim lại càng quyến rũ với sự điềm đạm, biết quan tâm và hiểu biết của một người đàn ông trưởng thành. Hai cá tính trái ngược ấy một khi đặt cạnh nhau sẽ xảy ra vô số cuộc tranh cãi, khiêu khích. When Harry Met Sally… đạt doanh thu 92.8 triệu đô-la Mỹ tại khu vực Bắc Mỹ. Ephron nhận một giải BAFTA, một đề cử giải Oscar và một giải Nghiệp đoàn tác giả Hoa Kỳ cho kịch bản của bà. When Harry Met Sally cũng được các nhà phê bình điện ảnh đặc biệt đánh giá cao ở những câu nói hay trong phim, ở những lời thoại thông minh, hóm hỉnh. Một chi tiết kinh điển khác của When Harry Met Sally diễn ra tại một quán ăn đông khách khi Harry và Sally đang tranh luận về chủ đề tình dục. Để chứng minh cho luận điểm của mình, Sally giả vờ đạt cực khoái ngay trước con mắt tẽn tò của Harry. Thậm chí, ngày nay, tại quán ăn nơi mà cảnh quay này diễn ra còn treo một tấm bảng: “Nơi Harry gặp Sally… hy vọng bạn có được những gì cô ấy đã có!” Sức hấp dẫn trong lời thoại của When Harry Met Sally còn được thể hiện qua một chuỗi các cuộc đối thoại kịch tính, dí dỏm, không ai chịu ai giữa hai nhân vật chính. Phim nằm trong danh sách 100 phim hài của Viện phim Mỹ và danh sách “100 phim hài hước nhất” của Bravo’s. Đối với khán giả yêu New York, When Harry Met Sally càng là một bộ phim cần phải xem. Sánh vai bên nhau, Harry và Sally đã đi qua những đường phố tuyệt đẹp ngập tràn màu đỏ của lá thu. Đặc biệt, xen giữa phim là những đoạn trò chuyện ngắn của các cặp vợ chồng già về các câu chuyện làm thế nào họ đến được với nhau. Phim kết thúc bằng cuộc trò chuyện của Harry và Sally, trong đó hai người nói rằng họ chỉ cần ba tháng để làm đám cưới, nhưng đó là ba tháng cho mười hai năm chờ đợi, cho đến lúc này trong đoạn hội thoại hai người vẫn có những xung đột về quan điểm nhất định nhưng họ cũng có cách thỏa hiệp, nhượng bộ với nhau rất riêng. Quan trọng hơn, sau hơn 20 năm được phát hành, dù thị hiếu của khán giả có liên tục thay đổi, When Harry Met Sally vẫn tìm được chỗ đứng vững chắc trong lòng người hâm mộ.

Basic Instinct – Bản Năng Gốc

4209

Bản năng gốc là phim điện ảnh thuộc tâm lý kịch tính do điện ảnh Mỹ và Pháp hợp tác được sản xuất năm 1992. Phim được Paul Verhoeven đạo diễn và viết kịch bản bởi Joe Eszterhas, các diễn viên chính tham gia phim là Sharon Stone, Michael Douglas, Jeanne Tripplehorn và George Dzundza. Được xem là bộ phim gây tiếng vang lớn nhất trong lịch sử điện ảnh những năm 90, Bản năng gốc (Basic Instinct) không chỉ đạt doanh thu khủng mà còn tạo nên những tranh luận triền miên giữa những nhà phê bình. Không chỉ trở thành một huyền thoại bất tử khi được đánh giá là bộ phim trinh thám gợi tình nhưng vẫn giữ được tính ly kỳ, hấp dẫn, Basic Instinct còn được đề cử hai giải Oscar ở hạng mục Biên kịch và Âm nhạc năm 1992. Bộ phim xoay quanh nhân vật thám tử Nick Curran (Douglas), người phụ trách điều tra về một vụ giết người man rợ mà nạn nhân là một cựu ca sĩ giàu có. Một nhà văn quyến rũ giàu sang tên là Catherine Tramell (Stone) cũng liên quan đến vụ án và mối quan hệ của Nick Curran với người phụ nữ bí ẩn này. Ngay từ khi công chiếu, Bản năng gốc cũng đã tạo dư luận mạnh mẽ liên quan đến các cảnh nóng và hình ảnh bạo lực đẫm máu trong phim. Hình ảnh nào khiến người xem nhớ nhất khi nói về phim Basic Instinct? Chắc chắn là khi nhân vật Catherine Tramell quyến rũ Nick Curran cùng các thanh tra với tư thế ngồi dang hai chân trong chiếc váy màu trắng. “Không có ai nghĩ rằng hành động bỏ chân xuống sau đó lại bắt chéo chân lên một cách đơn giản của một phụ nữ đã trở thành một trong những khoảnh khắc được nhắc đến nhiều nhất trong lịch sử điện ảnh?”, Sharon Stone đã từng trả lời phỏng vấn về khoảnh khắc đó như vậy. Mặc dù chịu nhiều chỉ trích, phim gặt hái thành công vang dội về doanh thu với 352 triệu đô la toàn cầu. Sharon Stone đã giành giải Quả cầu vàng với hạng mục Nữ diễn viên xuất sắc nhất. Ngay từ khi kịch bản hoàn thiện, Verhoeven đã gặp trục trặc khi mà không một diễn viên nữ nào chịu trút bỏ xiêm y, thậm chí diễn viên Michael Douglas, anh chấp nhận diễn xuất trong vai thanh tra Curran, nhưng kèm theo một điều khoản trong hợp đồng là “không nude toàn phần”. Trong khi đó, các nữ diễn viên hạng A như Michele Pfeiffer và diễn viên được lựa chọn đầu tiên là Kim Basinger cũng từ chối khéo vì sợ dư luận, và lúc đó, với sự nghiệp chưa có gì lớn lao, sau khi đọc qua kịch bản, Stone đã chấp nhận. PHỤ ĐỀ VIỆT NGỮ BỞI BEGOOD SUBBING TEAM. Ngôi sao nhạc rock Johnny Boz (Bill Cable) bị đâm đến chết bằng cây dùi đục đá khi đang quan hệ tình dục với một người phụ nữ tóc vàng, thám tử điều tra trọng án Nick Curran (Michaek Douglas) ngay sau đó được điều đến hiện trường. Nghi phạm duy nhất chỉ ra Catherine Tramell (Sharon Stone), một nhà văn chuyên viết tiểu thuyết hình sự, là người cuối cùng nhìn thấy Boz vào đêm anh ta bị giết. Nick và Gus, cùng với các đồng sự khác, khám phá ra Catherine cũng vừa mới xuất bản cuốn tiểu thuyết về siêu sao nhạc rock bị giết với cùng phương thức như Boz (bị đâm trên giường bằng cây dùi đục đá, tay bị trói bằng khăn choàng lụa trắng). Trong suốt quá trình bị hỏi cung bởi các vị thám tử (bao gồm cả Nick), tại sở cảnh sát, Catherine có biểu hiện bất cần, không yêu cầu luật sư, từ chối dập thuốc lá và bắt chéo chân – qua đó, chiếc váy ngắn làm lộ ra rằng cô không hề mặc đồ lót. Catherine tiết lộ rằng cô sẽ dùng Nick làm mẫu cho tiểu thuyết sắp tới của cô – một chàng cảnh sát yêu say đắm người đàn bà xấu xa và bị cô ta sát hại; đồng thời anh cũng thừa nhận tình cảm của mình cho cô và công khai việc sẵn sàng chứng minh vai trò của cô trong vụ án giết Boz. Nick và Catherine bắt đầu quan hệ với nhau theo kiểu mèo vờn chuột. Và từ đó nhiều chi tiết bắt đầu xuất hiện khiến cho cuộc điều tra trở nên rắc rối. Douglas không muốn đóng chung với một diễn viên gần như vô danh. Anh muốn hợp tác với một nữ diễn viên hạng A để giúp bộ phim có được tiếng vang hơn. Để làm hài lòng Douglas, Verhoeven lại phải mất 6 tháng để tìm kiếm các nữ diễn viên khác, trước khi ông bấm máy thử một cảnh quay chung của Douglas và Stone. Theo như lời của Verhoeven kể, Stone đã diễn xuất tuyệt vời hơn những gì mà ông yêu cầu. Bà đã diễn giống như thật. Khi bà diễn cảnh ngồi, năm viên thanh tra không rời mắt khỏi vì không thể tập trung. Còn Michael Douglas thì chỉ mỉm cười. Cảnh nóng bỏng nhất giữa Sharon Stone và Michael Douglas trong cảnh không mảnh vải che thân được thực hiện trong ba ngày. Verhoeven rất táo bạo khi quyết thực hiện những cảnh nóng bỏng trong phim trong một căn phòng đầy ánh sáng. “Kịch bản của bộ phim là những cảnh nóng bỏng được diễn ra trong một căn phòng rất tối nhưng Paul thật sự không muốn thực hiện. Lúc đó, ông ấy hét lên : Chúng ta quay cảnh sex để sau đó sẽ công chiếu chúng cơ mà”, Stone kể lại. Có lần, đạo diễn Paul lý giải: “Tình dục là một biểu tượng. Trong cách làm phim của người Mỹ, họ hay sử dụng những hiệu ứng chồng mờ nhưng điều đó đối với tôi thật vô cảm. Tình dục không chỉ là tình dục mà đó là sự giao tiếp. Có thể tạo ấn tượng ngay trong lúc kể chuyện, theo cách mà con người chạm vào nhau”. Verhoeven giữ lập trường rằng bộ phim này sẽ trở thành một trong những biểu tượng tình dục lớn nhất trong lịch sử Hollywood. Và rõ ràng, mặc dù Basic Instinct bị buộc phải “cắt gọt” lại 14 lần để đáp ứng những yêu cầu của cơ quan kiểm duyệt phim của Mỹ (trong đó có cảnh yêu đương đầu tiên giữa Douglas và Stone), nhưng bộ phim đã nhanh chóng trở thành bộ phim hấp dẫn nhất khi được công chiếu vào năm 1992.

The Good Mother

6268

“Bạn biết mình là một người mẹ khi bạn luôn tự nguyện giang đôi tay mình ra để cho con bạn sà vào…” Một người mẹ đã ly hôn có thể mất quyền nuôi con gái nhỏ của cô ấy về tay người chồng cũ sau khi anh ấy phát hiện ra cô con gái nhỏ đã bò vào giường cùng với mẹ và bạn trai của mẹ. Bộ phim được phỏng theo cuốn tiểu thuyết cùng tên của Sue Miller. Thể loại : Kịch tính, lãng mạn. Thời lượng : 103 phút. Công chiếu : 04/11/1988. Đạo diễn : Leonard Nimoy. Biên kịch : Michael Bordman. Hãng sản xuất : Touchstone Pictures. “The Good Mother” là bộ phim bối rối nhất và đã gây ra mâu thuẫn nghiêm trọng trong suốt một thời gian dài. Bộ phim này theo dấu những trở ngại của người mẹ mới ly hôn Anna Dunlap khi cô ấy gặp trở ngại trong việc cổ vũ tinh thần cho mình và cô con gái nhỏ. Anna có những ám ảnh về khao khát cuộc sống tự do được truyền lại từ người dì nổi loạn đã mất rất gắn bó với cô khi cô còn bé. Cảm thấy cuộc sống với người chồng nguyên tắc của mình quá tẻ nhạt, cô đã ly hôn khi phát hiện anh ta có người tình. Anna đam mê âm nhạc nhưng đã từ bỏ tất cả để làm một người vợ – người mẹ, cô làm một công việc ở phòng thí nghiệm tẻ nhạt, nơi chẳng ai giao tiếp với ai và nhận dạy đàn cá nhân. Con gái là niềm vui duy nhất của cô mặc dù đời sống của hai mẹ con khá khó khăn vì cô không muốn dựa dẫm vào nhà ngoại, tuy vậy vẫn có những lúc cô chán nản và lạc lõng. Mọi người có lẽ sẽ không cảm thấy quá đặc biệt hài lòng về bộ phim. Sự kiện tâm điểm của phim được diễn giải hơi mơ hồ và chưa đủ sức nặng để tạo ra biến cố lớn như vậy. “The Good Mother” tìm hiểu về tình cảm và niềm tin của trẻ con khi tiếp xúc với tình dục trưởng thành và thách thức sự phát triển niềm tin của xã hội khi để cho tòa án giải quyết những vấn đề đạo đức cá nhân phức tạp. Đây là bộ phim có phần mở đầu dài, gợi nhớ về tuổi thơ với sự gắn bó giữa hai dì cháu, vùng thôn quê, ánh trăng, con thuyền. Tất cả những hình ảnh này có thể hơi rời rạc với câu chuyện phim phía sau nhưng lại thể hiện được rõ tâm tính cũng như khao khát và những suy nghĩ của nhân vật Anna để hiểu nguyên nhân việc cô ly hôn, nguyên nhân của sự chán nản và vô định của cô cho tới khi cô gặp một nhà điêu khắc người Ai Len tên là Leo tại tiệm giặt là công cộng, và họ lao vào một chuyện tình lãng mạn – chuyện tình mà Anna đã luôn mong có được từ khi còn bé. Từ đó cô sống tích cực hơn, vui vẻ hơn, thoải mái hơn, có định hướng hơn. Cho tới khi chồng cũ của cô – Brian, do hiểu nhầm cùng với sự lo lắng dành cho con gái và những tình cảm ghen tị khi thấy vợ cũ sống vui vẻ, đã tố cáo Leo đã quấy rối tình dục con gái nhỏ của họ… Ngoại trừ những điểm về tính cách nhân vật còn chưa được mở rộng và thỏa đáng cộng với việc đây là một bộ phim không dễ thưởng thức thì tất cả những phần còn lại của phim đều ổn. Diễn xuất của hai diễn viên ngôi sao gạo cội Diane Keaton và Liam Neeson tốt, diễn xuất của cô bé con trong phim tốt. Đạo diễn cùng biên kịch đã chỉ đạo và xử lý để mỗi đoạn nhỏ trong phim đều liền mạch và ổn định.

Cake

6105

“Tôi đã đau đớn lắm…” Cake không chỉ là bộ phim đem lại cho Jennifer Aniston một đề cử Qủa cầu Vàng mà còn đem đến cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc về những thăng trầm trong hành trình vượt qua bi kịch, những nỗi đau, những tổn thương tâm lý, ảo giác, sự cô độc, mất mát và cả những cảm xúc giữa người với người… Đầu phim bạn sẽ được gặp Claire, một người đàn bà với chẳng chịt những vết sẹo trên cơ thể. Cô gay gắt, vô tình, độc miệng, và dường như luôn giận dữ. Thậm chí trước cái chết do tự sát của một người phụ nữ trẻ trong cùng nhóm hỗ trợ những người gặp tổn thương vĩnh viễn, Claire cũng dửng dưng. Nhưng dần dần, Claire mong muốn tìm hiểu về cảm nhận giải thoát của Nina khi lựa chọn cái chết, từ đó dẫn tới một mối quan hệ chia sẻ đồng cảm sâu sắc giữa Claire và chồng của Nina. Mối quan hệ này đã níu kéo Claire lại và giúp cô nhìn thẳng vào bi kịch của cuộc đời mình để bước tiếp hay dừng lại… Ra mắt trong số những bộ phim được lựa chọn Trình chiếu Đặc biệt tại Liên hoan phim Quốc tế Toronto 2014, thật không khó hiểu vì sao các nhà phê bình lại trở nên câm lặng trước Cake. Len cũng muốn gửi tới các bạn một khoảng thời gian lắng đọng đầy cảm xúc với lối dẫn dắt đầy thông minh của bộ phim này. Hãng sản xuất : After Dark Films. Đạo diễn : Daniel Barnz. Biên kịch : Patrick Tobin. Ngày công chiếu : 08/09/2014.

Deepwater Horizon

6437

Deepwater Horizon là bộ phim của đạo diễn Peter Berg, kể về tai nạn giàn khoan dầu ở vịnh Mexico năm 2010, khiến 11 công nhân thiệt mạng. Hơn 50.000 thùng dầu đã tràn khắp vịnh trong vòng 87 ngày. Ngày 20/04/2010, giàn khoan nước sâu ở ngoài bờ biển Louisiana với tên gọi Deepwater Horizon đã làm chấn động cả thế giới khi xảy ra một vụ nổ dữ dội kéo theo sự cố tràn dầu không có cách nào ngăn chặn được. Đây được xem là một trong những thảm họa lớn nhất trong lịch sử khai thác dầu khí của nhân loại. Theo tờ The Hollywood Reporter, dự án đã tiêu tốn của Lionsgate, Participant Media và một đơn vị đầu tư Trung Quốc khoảng 110-120 triệu USD. Với số tiền đó, họ đã dày công xây dựng nên một giàn khoan có kích thước bằng 80% so với công trình ngoài đời thực tại phim trường để ghi hình bộ phim. Giàn khoan Deepwater Horizon là công trình vĩ đại với chiều dài 112 m, tức ngang ngửa một sân bóng đá. Nó được sử dụng để khai thác giếng dầu sâu nhất thế giới ở ngoài khơi Louisiana và đã hoạt động ổn định suốt 7 năm liền. Theo The Guardian, đây là vụ tràn dầu do tai nạn lớn nhất thế giới, đồng thời là thảm họa môi trường khủng khiếp nhất lịch sử nước Mỹ. Đạo diễn Peter Berg tái hiện thảm họa qua lối kể rất chân thực. Không chỉ tái hiện lại sự kiện lịch sử này trên màn ảnh, bộ phim Deepwater Horizon sẽ mang đến cho khán giả một góc nhìn khác mà cả thế giới chưa từng biết đến. Trước đây, những chủ đề thường được đề cập đến chỉ là xoay quanh vấn đề môi trường, thì đây sẽ là câu chuyện dũng cảm của 126 công nhân đang làm việc trên giàn khoan vào ngày định mệnh đó. Vào lúc 9h45 tối 20/04/2010, giàn khoan bắt đầu gặp sự cố. Chỉ sau hai tiếng, cả công trình như biến thành ngọn đuốc, đe dọa sinh mạng của toàn bộ 126 con người đang có mặt ở đó. Bỏ qua nhiều thông tin về vấn nạn tàn phá môi trường và cuộc điều tra sau đó, kịch bản xoay quanh ngày định mệnh của những nhân viên trên giàn khoan. Sáng hôm đó, kỹ sư trưởng Mike Williams (Mark Wahlberg) cùng người quản lý ngoài khơi Jimmy Harrell (Kurt Russell) yêu cầu phải có một cuộc kiểm tra xi măng. Tuy nhiên, đại diện công ty dầu khí BP là Donald Vidrine (John Malkovich) bác đề nghị này để tiết kiệm chi phí và thời gian. Tối cùng ngày, dầu bắt đầu rỉ ra và bắt lửa. Họ là những công nhân lành nghề đang làm việc chăm chỉ để hy vọng sớm trở về đoàn tụ với gia đình trên bờ. Nhưng đột nhiên, họ phải đối mặt với khoảnh khắc tăm tối nhất trong cuộc đời mình. Cuối cùng, 11 người đã thiệt mạng và 17 người bị thương. Ở bộ phim Deepwater Horizon, toàn bộ sự kiện được kể lại dưới góc nhìn của những người kỹ sư và công nhân có mặt trên giàn khoan vào ngày định mệnh, với tâm điểm là kỹ sư trưởng Mike Williams (Mark Wahlberg) và chỉ huy Jimmy Harell (Kurt Russell). Ngôn ngữ điện ảnh của đạo diễn Peter Berg trong phim mới giàu tính hiện thực tương tự các tác phẩm trước như The Kingdom và Lone Survivor. Lúc đầu, ông muốn quay phim tại một giàn khoan thật nhưng kinh phí không cho phép. Chính Mike Williams ở ngoài đời thực đã tham gia cố vấn cho đoàn làm phim nhằm giúp tác phẩm mang tính chính xác ở mức cao nhất. Sau khi cố gắng giải cứu các công nhân mắc kẹt ở khu dưới, Williams chính là người cuối cùng rời khỏi giàn khoan đang bốc cháy vào tối 20/4/2010. Cách kể của Peter Berg giàu tính trần thuật chứ không “kịch tính hóa” như nhiều phim thảm họa khác ở Hollywood. Lối kể này giúp phim chân thực tới mức trần trụi. Đứng giữa ranh giới của sự sống, họ phải chạy đua từng phút, đương đầu với đại dương mênh mông với những ngọn lửa hung thần, để bảo vệ và cứu lấy nhau. Bị mắc kẹt trên giàn khoan đang cháy sau vụ nổ, bị thương nặng, Mike Williams đã nhảy từ độ cao gần 300m xuống Vịnh Mexico và cuối cùng đã được máy bay trực thăng cứu hộ Coast Guard cứu sống. Cùng với Jimmy Harell, anh đã giữ cho giàn khoan trụ vững lâu nhất có thể để người khác có thêm thời gian di tản. Trái với mô-típ thường thấy ở các bộ phim cùng thể loại, Deepwater Horizonkhông xây dựng Mike Williams hay bất cứ ai thành nhân vật anh hùng. Sau vài lời mở đầu, phim đi vào cấu trúc truyền thống, các cảnh diễn ra theo thứ tự thời gian. Kịch bản do Matthew Michael Carnahan và Matthew Sand chắp bút chủ yếu là những câu thoại ngắn gọn để truyền đạt mệnh lệnh trong ngành dầu khí, xen lẫn các lý giải về khoa học. Đối với Mike Williams và thân nhân của những người bị nạn trải qua thời gian khi thảm họa diễn ra 40 dặm ngoài khơi bờ biển Louisiana, thì bộ phim Deepwater Horizon chính là một cách để vinh danh những đồng nghiệp, người thân của họ đã qua đời. Là một cố vấn trong quá trình sản xuất trên phim trường, Mike Williams cho biết: “Tôi đã quyết định chấp nhận thách thức để đưa câu chuyện này lên màn hình; muốn dùng bộ phim để nói chuyện với 11 anh em đồng nghiệp mà tôi không thể nói được.” Xuyên suốt bộ phim, giàn khoan lơ lửng ngay trên “Hell’s Well” (Giếng Địa ngục), giếng dầu sâu nhất thế giới và dữ dội hệt như một con quái vật. Bắt đầu với những bọt khí nổi lên và cuộn trào hệt như hơi thở, tiếng gầm gừ từ miệng giếng báo hiệu nó đã tỉnh giấc. Hơn nửa đầu phim dành để mô tả các sự kiện trước vụ nổ. Một đặc điểm trong phim của Peter Berg là cắt cảnh liên tục để thể hiện sự hối hả trong cuộc sống trên giàn khoan. Làm một bộ phim 6 năm sau thảm kịch, đạo diễn Peter Berg muốn Deepwater Horizon mang thảm họa môi trường tồi tệ nhất trong lịch sử Hoa Kỳ tới cho những người chỉ biết đến nó trên bản tin. Ông nói: “Deepwater Horizon có những yếu tố của một bộ phim về thảm họa, nhưng đó là một câu chuyện có thật”. Các phân cảnh hành động trong phim không quá hoa mỹ hay bùng nổ theo kiểu bom tấn, nhưng vẫn đủ khiến khán giả lặng người trước thực tế thảm khốc. Dù mang đề tài thảm hoạ, Deepwater Horizon có phần nghiêng về tâm lý nhiều hơn. Chỉ trong trường đoạn nhân vật của Mark Wahlberg di chuyển, đạo diễn đã chuyển camera đến bốn, năm lần ở nhiều góc trung, cận khác nhau. Đôi lúc, thủ pháp này khiến người xem hơi khó chịu vì cắt cảnh quá nhanh, mỗi cảnh chỉ kéo dài một, hai giây. Mark Wahlberg, người đóng vai Mike Williams trong bộ phim cho biết: “Chúng tôi không muốn vẽ bằng những con số, mà muốn làm bộ phim càng chân thật càng tốt. Tôi cảm kích sự can đảm của hãng phim khi thực hiện một bộ phim hành động mà không có cơ hội cho việc thực hiện một phần tiếp theo”. Trên thực tế, thảm hoạ trên giàn khoan do chính con người gây ra: từ điều kiện lao động tồi tệ, cơ sở vật chất xuống cấp, đốt cháy giai đoạn khoan dầu khi bỏ qua nhiều bài kiểm tra… Do đó, bộ phim không tạo ra một anh hùng hành động, mà lại khắc họa rõ nét một trong những “kẻ thù” lớn nhất của nhân loại: lòng tham vô đáy. Nhịp phim bất ngờ được đẩy nhanh khi vụ tràn dầu xảy ra. Lúc này, tác phẩm có nhiều trường đoạn thường thấy trong dòng phim thảm họa. Trước đó, những thảm họa có thật đã là cảm hứng cho nhiều bộ phim của Hollywood như The Perfect Storm, Titanic, The Impossible và Everest. Tuy nhiên, khi đưa Deepwater Horizon lên màn ảnh, nhà làm phim phải đối đầu với nhiều thách thức. Những cảnh cháy nổ ghê rợn và hành trình cứu người của Mike Williams ở cuối phim đủ giúp Deepwater Horizon trở thành tác phẩm nhân văn, bi tráng. Khán giả được chiêm ngưỡng giàn khoan cháy bừng bừng từ trên cao, xen lẫn cuộc đào thoát của những công nhân người bê bết bùn và máu. Không gian chật hẹp trong hành lang cùng góc cận mô tả những vết thương đẫm máu mang đến sự gai góc, khiến người xem phải rùng mình. Đạo diễn Peter Berg cho biết mục tiêu của ông từ khi bắt đầu Deepwater Horizon là tập trung vào những câu chuyện của con người trước thiên tai. Ông nói: “Cho đến nay, khi nghĩ về Deepwater Horizon, mọi người chỉ nghĩ về một vụ tràn dầu và làm nhiều bồ nông chết. Rõ ràng sự cố tràn dầu là khủng khiếp, nhưng cũng có một sự thật là 11 người đàn ông chết trên giàn khoan và những người đàn ông đã cố gắng để ngăn chặn dầu tràn, chắc chắn không phải là lỗi của họ.” Ngoài ra, Peter Berg còn gây ấn tượng mạnh khi sử dụng ngọn lửa như một “nhân vật” phụ trong phim. Với đặc trưng của một vụ cháy do tràn dầu, hỏa hoạn bùng phát rất dữ dội và lan khắp nơi, từ trên giàn khoan đến mặt biển. Một nhân vật có thật khác trong phim là Caleb Holloway (do Dylan O’Brien thể hiện) nói: “Thật là kỳ lạ khi nhìn thấy phim trường. Nó giống đến nỗi tôi có cảm giác như muốn đi làm.” Ngọn lửa trong Deepwater Horizon có nhịp điệu riêng của mình và không bao giờ đứng yên. Ngay cả trong những cảnh con người làm chủ thể, ngọn lửa ở hậu cảnh vẫn có những cú bùng lên mạnh mẽ. Ban đầu, khi Mike Williams được tiếp cận về dự án, anh đã do dự về việc sẽ bị đưa vào làm nhân vật chính trên phim như một anh hùng. Đạo diễn Peter Berg nói: “Anh ấy đã rất lo lắng về những gì được gọi là “ăn cắp sự dũng cảm”. Anh ấy muốn chắc rằng chúng tôi đã không gán cho anh ấy hàng loạt những việc mà mình không làm, hoặc là bất kỳ điều gì biến anh ấy thành anh hùng hơn những người khác trên giàn khoan, và tôi tôn trọng điều đó”. Deepwater Horizon giống với các thảm họa khác – như Apollo 13, The Impossible hay gần đây là Sully – ở chi tiết con người luôn là trung tâm của tác phẩm. Deepwater Horizon lay động cảm xúc về trận chiến sinh tồn của 126 con người giữa biển khơi mênh mông và ngọn lửa dữ dội. Là một trong những người quen thuộc nhất với các hoạt động của giàn khoan và là một trong những người cuối cùng rời khỏi nó, Mike Williams là một nguồn tài nguyên vô giá. Nam diễn viên Mark Wahlberg nói: “Khi gặp Mike, tôi chỉ nhấn mạnh rằng chúng tôi muốn anh ấy là cố vấn. Tôi muốn anh ấy có mặt ở đó với chúng tôi và chắc chắn rằng chúng tôi đã thể hiện mọi điều càng chính xác càng tốt”. Phim có nhiều cảnh cảm động như khi nhân vật Jimmy Harrell điểm danh những người sống sót đến lạc giọng, hay cảnh tất cả cùng quỳ gối cầu nguyện Chúa. Trong vai chính, lối diễn nhẹ nhàng và ít lên gân của Mark Wahlberg phù hợp với hình tượng một kỹ sư bình dị, yêu gia đình. Kurt Russell vào vai người quản lý cương trực, còn Malkovich hóa thân thành kẻ liều lĩnh gây họa cho giàn khoan. Những biến chuyển tâm lý của vai diễn này được tài tử 62 tuổi thể hiện thuyết phục, từ vẻ kiêu ngạo ban đầu đến sự hèn nhát, ánh mắt thất thần ở nửa sau.

A Street Cat Named Bob

6168

A Street Cat Named Bob là một phim điện ảnh tiểu sử của Vương quốc Anh năm 2016 do Roger Spottiswoode đạo diễn và Tim John và Maria Nation viết kịch bản. Đây là phiên bản chuyển thể điện ảnh từ cuốn tự truyện cùng tên của nhà văn James Bowen. Trong cuộc sống có rất nhiều điều vô cùng kỳ lạ. Liệu những con vật lại có thể thay đổi cuộc đời của một người không? James Bowen sinh ngày 15/3/1979 tại Surrey, Anh. Sau khi cha mẹ quyết định ly dị, anh chàng đã cùng mẹ sang Úc để tiếp tục một cuộc sống mới. Nhưng nào ai ngờ, James thường xuyên bị bạn bè ở trường bắt nạt và chọc ghẹo bằng vô số lời lẽ rất khó nghe. “Tới năm lớp 11, tôi quyết định bỏ học vì không thể chịu đựng thêm nữa. Tôi từng mắc chứng trầm cảm kéo dài khiến việc giao tiếp với thế giới xung quanh gần như bị bó hẹp trong không gian phòng riêng chật chội.” – James chia sẻ. Năm 1997, James có cơ hội trở về Anh quốc để cùng chung sống với gia đình riêng của em gái mình. Không lâu sau, do xảy ra mâu thuẫn nên chàng thanh niên trẻ đã dọn ra đường ở và trở thành người vô gia cư. Suốt những năm tháng khó khăn ấy, James phải ngủ vật vạ ngoài phố và kiếm sống bằng nghề đi hát dạo. Quá chán nản trước thực tại đau khổ, anh đã tìm đến các loại chất kích thích để trốn tránh mọi thứ. “Biết mình không thể chìm đắm mãi trong thứ thuốc chết người, tôi quyết định tham gia một chương trình cai nghiện bằng methadone và sống trong một căn hộ xã hội ở Tottenham, London.” Có lẽ, cuộc sống của chàng nghệ sĩ nghèo sẽ vẫn tiếp tục theo một con đường mòn tăm tối nếu không gặp được người bạn mèo tri kỉ tại căn nhà đổ nát ven thành phố. Cuộc gặp gỡ định mệnh này đã hoàn toàn thay đổi số phận của anh, biến anh từ một người với bàn tay trắng trở thành một người nổi tiếng được nhiều người biết đến. Câu chuyện bắt đầu từ năm 2007, James đã tìm thấy một chú mèo hoang đi lạc với những vết thâm tím và thương tích đầy mình ngay gần một ngôi nhà đổ nát. Hình ảnh này đã làm chàng trai trẻ nhớ tới những năm tháng “ăn đường ở chợ” của chính bản thân mình. Vì vậy, anh lập tức vét sạch số tiền tiết kiệm để cứu sống bằng được chú mèo hoang đi lạc này. Dường như đạo lý về lòng biết ơn và sự báo đáp cũng được áp dụng ngay trong những loài động vật. Khi chú mèo hoang phục hồi hoàn toàn nó đã quyết định không rời đi, thay vào đó còn đi theo James một cách tự nhiên và tự nguyện. Kể từ đó, chú mèo lông vàng cũng có tên gọi mới là Bob, đồng thời được chủ nhân cho “ăn diện” bằng những chiếc khăn choàng hay phụ kiện thời trang cực bắt mắt. Nhiều người đã ghé tới góc phố quen thuộc chỉ để nghe James hát và tranh thủ ngắm nhìn Bob nhún nhảy theo điệu nhạc mỗi ngày. Sự kết hợp tình cờ này đã khiến cho doanh thu biểu diễn của anh tăng vọt. James dần dần đã rời xa khỏi được ma túy, anh nói: “Từ sau khi có Bob, cuộc sống của tôi đã hoàn toàn thay đổi, lần đầu tiên tôi cảm nhận được rằng mình có được một tổ ấm thực sự.” “Chú mèo không chỉ đem lại niềm vui mà còn giúp cuộc sống xung quanh trở nên ngọt ngào hơn rất nhiều. Nó rất dễ thương và luôn biết cách làm người đối diện phải xiêu lòng.” – một facebooker chia sẻ. Sức mạnh chính diện và tích cực này đã làm xúc động đến trái tim của bao người. Câu chuyện của họ cũng đã được viết lại thành một cuốn sách có tên ‘A Street Cat Named Bob’. Theo cách tự nhiên và chân thành nhất, câu chuyện đầy cảm động về tình bạn đẹp giữa chàng nghệ sĩ vô gia cư và chú mèo lông vàng Bob đã trở thành nguồn cảm hứng sống đầy bất tận cho rất nhiều người trên thế giới này. Bộ phim A Street Cat Named Bob được ra mắt tại rạp Curzon Mayfair, London vào ngày 3 tháng 11 năm 2016, với sự tham dự của Kate Middleton, Công nương Anh quốc. Phim được chính thức khởi chiếu tại London vào ngày 4 tháng 11 và tại Mỹ vào ngày 18 tháng 11 năm 2016. Phim có sự tham gia của Luke Treadaway, Ruta Gesmintas, Joanne Froggatt, Anthony Head và Mèo Bob. Phim đã giành chiến thắng ở hạng mục Phim Vương quốc Anh xuất sắc nhất tại Giải thưởng Điện ảnh Quốc gia Vương quốc Anh vào ngày 29 tháng 3 năm 2017. A Street Cat Named Bob thu về tổng cộng 82.703 USD tại khu vực Mỹ và Canada, và 7.852.881 USD tại các thị trường khác. Trên trang tổng hợp kết quả đánh giá Rotten Tomatoes, phim được đánh giá tại mức 77% dựa trên 56 bài phê bình. Gần đây James Bowen đã thành công trong việc gây quỹ từ quần chúng và thu được 150.000 bảng Anh. Anh đã mở một quán Cafe mèo với cái tên: Bob’s World. Tương lai anh còn dự định biến quán cafe của mình trở thành một nơi trú ẩn đặc biệt dành cho những chú mèo đi lạc. Một chú mèo đã có thể thay đổi cuộc đời của một người nghiện ma túy, thậm chí cho họ một cuộc sống mới. Câu chuyện nghe thật khó tin nhưng đó lại là một câu chuyện có thật. Có lẽ câu chuyện cũng chứng minh một đạo lý, khi bạn thiện nguyện làm một điều gì đó mà không hề cầu sự báo đáp, thì bạn nhất định sẽ nhận được một phần thưởng thích đáng và sự hạnh phúc mà bạn không thể ngờ tới. Giúp đỡ người khác một cách vô điều kiện cũng chính là bạn đang giúp đỡ chính mình.

Notting Hill

7437

Cuộc đời của chủ một tiệm sách đơn giản thay đổi khi anh ấy gặp ngôi sao điện ảnh nổi tiếng nhất thế giới. Giấc mơ của mỗi người đàn ông trở thành sự thật với William Thacker, chủ một hiệu sách không thành công tại Notting Hill, khi Anna Scott, người phụ nữ đẹp nhất thế giới và nữ diễn viên được yêu thích nhất, bước vào cửa hàng của anh. Lát sau, khi vẫn đang không thể tin nổi chuyện vừa xảy ra, William va phải cô ấy lần nữa – lần này làm đổ nước cam lên người cô ấy. Anna chấp nhận lời đề nghị thay đồ tại căn hộ gần đó của anh, và cảm ơn anh bằng một nụ hôn, mà dường như thậm chí còn khiến cô ấy ngạc nhiên hơn cả anh ấy. Cuối cùng, Anna và William tìm hiểu về nhau nhiều hơn qua hàng tháng trời, nhưng ở cùng với người phụ nữ được thèm muốn nhất thế giới thật không dễ dàng – không phải khi xung quanh là những người bạn thân nhất, cũng không khi luôn có cánh báo chí chờ ngấu nghiến mình.

Call Me By Your Name

4209

Thể loại: Tâm lý, lãng mạn Đạo diễn: Luca Guadagnino Có người nói Call Me By Your Name của đạo diễn Luca Guadagnino giống như mùa hè, đến với những tia nắng sưởi ấm khán giả và rời đi để lại những vệt bỏng nhức nhối. Tác phẩm trữ tình được Luca và nhà làm phim gạo cội James Ivory bắt tay thực hiện là phim chuyển thể tiếp theo từ loạt tiểu thuyết của nhà văn Andre Aciman. Tác phẩm chiếu ra mắt tại Liên hoan phim Berlin (Đức) đầu năm nay, tạo nên cơn sốt không nhỏ khiến nhiều cây bút ví von như ứng cử viên Oscar nặng ký, bất chấp đề tài đồng tính nhạy cảm cùng các cảnh “người lớn”. Call Me By Your Name là câu chuyện về mối tình day dứt giữa Elio – một thanh niên trẻ với người học trò của bố mẹ mình – Oliver. Call Me By Your Name cũng chính là bộ phim đồng tính mà ngay từ khi chiếu tại LHP độc lập Sundance đã nhận được những lời khen ngợi có cánh từ các nhà phê bình nghệ thuật. Đồng thời phim cũng trở thành tác phẩm hiếm hoi được đánh giá 97% trên trang web phê bình phim ảnh khó tính Rotten Tomatoes, dẫu cho đề tài khá hạn chế. Diễn viên chính: Timothée Chalamet, Armie Hammer, Michael Suhlbarg Call Me by Your Name thấm đượm thông điệp về trưởng thành, cách con người mở lòng và kết nối với nhau và trên hết, làm tan chảy trái tim người xem bằng thứ ngôn ngữ điện ảnh rạo rực đam mê. Đâu đó miền Bắc nước Ý những năm 80, một mùa hè ấm áp và ẩm ướt đã chứng kiến sự có mặt của chàng sinh viên trẻ người Mỹ Oliver (Armie Hammer) tới căn biệt thự của gia đình giáo sư khảo cổ học Perlman (Michael Stuhlbarg) để làm trợ lý cho công trình nghiên cứu của ông. Gia đình Elio mỗi mùa hè lại đón tiếp 1 vị khách khác nhau đến nghiên cứu cùng với cha của cậu như thế. Nếu như năm nào Elio cũng khó chịu vì phải nhường phòng của mình cho họ thì đến năm nay, định mệnh đã khiến hai chàng trai trẻ tìm thấy nhau, vương vấn và quấn quýt. Elio – báu vật của ông bà Perlman – là cậu nhóc mới lớn được mọi người yêu quý không chỉ vì tài năng âm nhạc, sở thích đọc sách đến mê mỏi, mà còn bởi vẻ đẹp mong manh, đầy chất nội tâm và gợi nhắc đến những bức tượng dưới bàn tay của các nghệ nhân Hy Lạp thời cổ đại. Tuổi mới lớn của Elio có lẽ sẽ cứ thế tiếp tục êm đềm và bình yên như những thị trấn cổ kính của Italy nếu như không có sự xuất hiện của Oliver (Armie Hammer) – anh chàng sinh viên người Mỹ vạm vỡ, đẹp trai, và cũng mang trong mình dòng máu Do Thái. Call Me by Your Name sống động trong từng hơi thở tình yêu, trái tim người xem phải loạn nhịp khi lắng nghe Oliver thì thầm vào tai Elio: “Hãy gọi tên anh bằng tên em và anh sẽ gọi em bằng tên anh”, trong từng cái hôn và điệu nhảy họ trao nhau. Thật kỳ lạ họ tìm thấy nhau đồng điệu trong một bản tình ca mà không ai muốn biết cái kết vì đó là khi Oliver kết thúc thời gian thực tập, cũng như mùa hè ở đây rồi sẽ kết thúc. Mối quan hệ trên cả tình bạn đã nảy nở giữa hai người từ giây phút ấy và kéo dài mãi đến tận 2 thập kỷ sau. Đạo diễn Luca Guadagnino cho biết, ông không đưa những cảnh nóng vào phim vì muốn nhiều khán giả cảm nhận được tình yêu của cặp đôi Oliver và Elio mà không gặp trở ngại gì. Luca Guadagnino cho hay khán giả Mỹ không quen với hình ảnh khỏa thân nam giới: “Hai diễn viên chính Timothée Chalamet và Armie Hammer lẫn tôi nhất trí không quay cảnh nude trực diện. Một người phụ nữ khỏa thân thì không sao, nhưng người ta sẽ tự hỏi liệu có cần thiết không khi nhìn một nam diễn viên trong tình trạng tương tự. Tôi nghĩ đó là phản ứng quen thuộc của người Mỹ”. Elio và Oliver dường như là hai mảnh ghép với hình dạng hoàn toàn khác nhau: một đang ở tuổi vô lo vô nghĩ, một đang đau đầu với hàng loạt câu hỏi về sự nghiệp, chuyện lập gia đình; một sống nội tâm, khép kín, lãng đãng với những nốt nhạc, vần thơ, một trưởng thành, quảng giao, chủ động trong việc làm quen, thu hút cảm tình của mọi người; một mang vẻ đẹp mềm mại có phần nữ tính của đàn ông Địa Trung Hải, một toát ra vẻ đàn ông mạnh mẽ đặc trưng cho xứ sở cờ hoa, quyến rũ từ cái nhìn đầu tiên. Luca Guadagnio có một cái tài mà ít đạo diễn đương đại với tới, đó là kể chuyện về đam mê bằng cảm giác. Bộ ba I Am Love, A Bigger Splash và đây, Call Me by Your Name đều nói về ham muốn, đều đánh động mọi giác quan của người xem bằng âm thanh, hình ảnh và thậm chí, cả đến những cái chạm trong những đêm hè ngột ngạt. Tuy nhiên, điều đó cũng phù hợp hoàn toàn với tông màu tươi sáng nhẹ nhàng của bộ phim và những bản nhạc réo rắt chạm vào trái tim khán giả. Call me by your name hứa hẹn sẽ là một kiệt tác “giống như lá bùa nhục cảm quyến rũ khán giả”, đồng thời là ứng cử viên nặng kí cho mùa Oscar 2018. Đứng sau phần kịch bản chuyển thể cuốn tiểu thuyết Call Me by Your Name của nhà văn André Aciman là đạo diễn, biên kịch, kiêm nhà sản xuất James Ivory năm nay đã 89 tuổi. Đây là cái tên có thể xa lạ đối với khán giả hiện đại, nhưng gợi nhiều kỷ niệm cho những ai yêu thích điện ảnh Hollywood giai đoạn cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990. Ta có cảm giác mình không chỉ xem một bộ phim, mà như đang đứng giữa nước Ý, với ánh nắng chảy tràn trên vai, mùi quả ngọt từ những cành đào chín trĩu la đà tầm với, tiếng xe đạp lăn đi trên con đường rải sỏi và cả tiếng dương cầm nơi Elio lướt tay trên phím đàn và Oliver, đứng đằng xa chăm chú lắng nghe. Tất cả điều đó đã khiến mọi cảm xúc của nhân vật trong phim chạy thẳng vào tim khán giả, chân thực tới mức ta muốn ngạt thở trong khi dõi theo Elio và Oliver trên con đường họ tìm thấy nhau và tìm thấy chính mình. Call Me by Your Name đem đến cho người xem chân dung chân thực và cảm động của hai người trẻ đang ngập ngừng tìm đến nhau bằng khao khát tình yêu, nhưng đồng thời ẩn giấu những nỗi lo sợ, rụt rè trước định kiến xã hội, trước hoài nghi có thể đến từ chính người thân xung quanh họ. Không chỉ xuất sắc trong việc khắc hoạ cá tính, suy tư, tình cảm của hai nhân vật chính Elio và Oliver, đạo diễn Luca Guadagnino còn khiến người xem ngả mũ bởi cách kể chuyện mộc mạc, hé lộ từng chi tiết trong tính cách nhân vật, cũng như tương tác chậm rãi nhưng đầy lôi cuốn giữa bộ đôi. Tình cảm giữa Elio và Oliver cần thời gian để vun xới khi hai con người vừa đấu tranh với nội tâm bản thân, vừa thu hút nhau bằng sự thông minh và hòa hợp đến kỳ lạ. Khán giả sẽ phải kiên nhẫn khi chính nhân vật cũng đang bối rối, họ dò xét nhau, thử nhau bằng kiến thức và quan điểm nghệ thuật, và cuối cùng ngã vào lòng nhau trong khoảnh khắc bất ngờ nhất. Hơn thế nữa, tuy Call Me by Your Name là câu chuyện mối tình đầu của Elio với Oliver, nhưng nhà làm phim người Italy không vì thế mà lãng quên nhóm nhân vật phụ. Họ là những người thân thiết của Elio, góp phần tạo nên tính cách, cuộc đời của cậu nhóc đang ở tuổi mới lớn. Với Call Me by Your Name, vị đạo diễn người Ý đã phá bỏ nhiều ước lệ để đi đến thứ ngôn ngữ điện ảnh đẹp đẽ do chính ông tạo nên. Ở đó không có tuyến thiện – ác, phản diện duy nhất là thời gian nghiệt ngã đếm ngược cho tới ngày Oliver kết thúc chuyến thực tập và mùa hè đi nốt. Góp phần tạo nên hiệu quả cảm xúc cho Call Me by Your Name còn phải kể tới sự đóng góp của nhà quay phim Sayombhu Mukdeeprom đến từ Thái Lan. Ông vốn là tác giả hình ảnh của bộ phim từng thắng giải Cành cọ vàng Uncle Boonmee Who Can Recall His Past Lives (2010) của xứ chùa vàng. Trung tâm là Elio, một thiếu niên 17 tuổi với diễn xuất tuyệt vời của Timothée Chalamet. Ở nam diễn viên có nét mơ màng luôn thường trực của những nghệ sĩ tài năng, đồng thời là mâu thuẫn nội tâm thường trực lộ ra vẻ bồn chồn của một chàng trai đang lớn. Nếu như Chalamet đẹp một cách dịu dàng phi giới, thì ở Armie Hammer là vẻ đẹp siêu thực của một pho tượng Phục Hưng với mái tóc chải gọn, quần áo gọn ghẽ tươm tất và vóc người cao lớn chở che. Đó là mẫu nhân vật nam tính, thông minh và hấp dẫn mà không ai có thể ngoảnh đi một khi đã nhìn thấy. Và cũng không thể không nhắc tới Sufjan Stevens. Nhà biên soạn âm nhạc đã hỗ trợ Guadagnino thổi hơi thở hoài cổ, lãng đãng của thập niên 1970-1980 vào Call Me by Your Name qua phần nhạc phim pha trộn giữa cổ điển và đương đại. Như một cốc nước mơ lạnh mùa hè, Call Me by Your Name đủ nên thơ để nhắc nhở ta về vẻ đẹp của tình yêu, đủ mạnh mẽ để những ai còn chưa thổ lộ dám đứng lên tìm lấy người mình yêu và trao đi lời thương, nhưng cũng đủ thực tế để ta học cách sống tốt hơn qua mỗi đổ vỡ. Đang trên đường chinh phục các giải thưởng điện ảnh danh giá nhất năm, Call Me by Your Name có thể thành công hoặc thất bại. Nhưng đây chắc chắn là một trong những bộ phim đáng nhớ nhất của điện ảnh thế giới năm 2017.

The Lake House : Ngôi nhà Bên hồ

5913

“Cô ấy là thật với anh hơn bất kỳ điều gì mà anh từng biết…” Nếu bạn nói với người yêu của mình rằng: “Hẹn gặp em vào ngày mai” thì điều đó có nghĩa là bạn chỉ việc chờ cho hết 24 giờ nữa hay đơn thuần là ngủ một giấc cho đến khi được nhìn thấy nụ cười ấy, dáng người yêu thương ấy vào sáng hôm sau. Còn riêng đối với Alex Wyler, “ngày mai” có nghĩa là anh ấy phải chờ thêm bốn năm nữa. Alex không phải gã điên, cũng không biết cách xuyên thông để vượt thời gian, anh ấy chỉ yêu một người sống với một dòng chảy thời gian khác mình. Hai con người ấy, Alex và Kate, họ cùng sống trong một ngôi nhà, nuôi cùng một chú chó và có những rung động tâm hồn đồng điệu từng nhịp với nhau dù họ ở hai thời điểm khác nhau. Sự thật là một điều kỳ lạ đã diễn ra mà vô tình, chiếc hòm thư phía trước ngôi nhà bên hồ lại có khả năng nhận và phát thư xuyên thời gian. Chính vì điều kỳ lạ ấy đã kết nối hoàn hảo hai con người ấy với nhau, và vì lẽ đó mà nó hiển nhiên được ta gọi là một điều diệu kỳ. “Một người đàn ông mà có thể tôi sẽ không bao giờ gặp được. Anh ấy, tôi muốn trao trọn trái tim mình cho anh ấy.” Chắc bạn cũng từng được người yêu tặng một bó hoa hay một chậu cây nhỏ, nhưng có lẽ bạn chưa thể hiểu được cảm giác của Kate khi được tặng một bóng mát, một nơi trú mưa. Chỉ là Kate bỗng chốc thấy nhớ và thèm nhìn thấy màu xanh của những tán cây ở quanh ngôi nhà bên hồ, thì một chàng ngốc có trái tim ấm áp liền chở một cái cây con còng queo đến trồng trước một công trình xây dựng chung cư và chăm tưới nó, để tối đó, chính xác hơn là buổi tối của hai năm sau, Kate có chỗ đứng trú mưa khi đi làm về. Và còn nhiều điều dịu dàng hơn thế. Alex sống ở năm 2004. Kate sống ở năm 2006. Nhưng vì một cuộc hẹn bất thành Alex đã đặt trước cho hai năm sau mà Kate quyết định từ bỏ những bức thư và cả Alex. Rồi đến năm 2008 của cô, tức là năm 2006 của Alex, Kate mới phát hiện ra lý do vì sao anh đã không tới. Và trong làn nước mắt, cô đến ngôi nhà bên hồ với hy vọng cuối cùng, gửi đi bức thư mong rằng Alex sẽ tiếp tục chờ đợi thêm hai năm, để họ có thể gặp nhau vào năm 2008. Sau bốn năm… The Lake House là một bộ phim trọn vẹn mọi cung bậc cảm xúc của một tình yêu, những lúc lãng mạn nồng nàn, những khi mong nhớ, lo âu, đau khổ… Tất cả được phối hợp hoàn hảo trên cái nền là phong cản thiên nhiên xinh đẹp và những giai điệu sâu lắng. Nó xứng đáng là sự lựa chọn mỗi lúc bạn chùn bước trước bức tường thuỷ tinh ngăn bạn đến với những điều làm nên ý nghĩa cho cuộc sống của mình. Cặp đôi Keenu Reeves và Sandra Bullock tái hợp sau siêu phẩm Speed năm 1994 và đem lại doanh thu phòng vé vô cùng cao cho bộ phim vào năm 2006. Sau đó họ còn cùng nhau tới dự lễ trao giải Teen Choice Award để nhận giải cho “Màn khóa môi tuyệt vời nhất của năm.” Tên tiếng Việt (tạm đặt) : Ngôi nhà Bên hồ. Thể loại : Kịch tính, siêu thực, lãng mạn. Thời lượng : 99 phút. Công chiếu : 16/06/2006. Đạo diễn : Alejandro Agresti. Biên kịch : David Auburn.

Me Before You : Trước Ngày Em Đến

6594

“Em chỉ có một cuộc đời thôi. Thật ra nhiệm vụ của em là phải sống trọn vẹn nhất có thể.” Chuyển thể từ tiểu thuyết lãng mạn từng khiến hàng triệu con tim thổn thức, bộ phim của “Mẹ Rồng” Emilia Clarke lại chứa nhiều khoảnh khắc hài hước và lạc quan. Từ hồi công bố trailer cuối năm ngoái, Me Before You đã trở thành bộ phim lãng mạn được nhiều khán giả chờ đợi. Bộ phim là một câu chuyện thực tế, dung dị nhưng cũng đầy lãng mạn về tình yêu và số phận mà bất cứ ai cũng có thể tìm thấy chính mình trong đó. Hơn nữa đây còn là một trong những bộ phim tình cảm, lãng mạn hiếm hoi của Hollywood trong mùa hè toàn những phim “bom tấn” hành động cháy nổ. Có người cho là yêu, có người nghĩ chỉ là sự ngộ nhận nhưng không ai dám phủ định những dấu ấn tích cực mà hai nhân vật trong “Me Before You” đem lại cho nhau, là sự sẻ chia của hai tâm hồn đầy cô đơn. Ra mắt vào năm 2012, cuốn tiểu thuyết của nhà văn Jojo Moyes từng nổi lên như một hiện tượng. Lời thoại ý nghĩa, hai diễn viên chính đẹp hút hồn hay những khuôn hình tràn ngập tình yêu mới là yếu tố khiến mọi trái tim sẵn sàng tan chảy? Tình yêu rõ ràng là thường xuất hiện vào lúc bạn ít ngờ tới nhất. Thể loại : Tâm lý, lãng mạn. Thời lượng : 110 phút. Công chiếu : 23/05/2016. Đạo diễn : Thea Sharrock. Biên kịch : Jojo Moyes. Tác phẩm từng gây phấn khích khi kể lại chuyện tình đẹp giữa hai con người đặc biệt, tỷ phú liệt nửa người và mỹ nhân khốn khó luôn lạc quan. Tác phẩm vào đề đơn giản, diễn biến cũng không có nút thắt bất ngờ. Câu chuyện tình đầy niềm vui, nỗi buồn và cả những giọt nước mắt đớn đau của cô gái 26 tuổi Lousia Clark và chàng trai 31 tuổi William Traynor bắt đầu ở một vùng nông thôn nước Anh tươi đẹp. Không chỉ nói về tình yêu, thông điệp mà bộ phim gửi gắm còn là sự kiên cường trong cuộc sống, câu chuyện của hai con người bất ngờ va vào nhau trên đường đời và cuộc gặp gỡ định mệnh làm thay đổi cả hai. Khoảnh khắc rơi nước mắt trước một câu chuyện tình yêu đơn thuần sẽ là trải nghiệm khác biệt, không chỉ cho các cặp đôi mà còn tuyệt vời khi chiêm nghiệm một mình. Khác với các bom tấn thời điểm gần đây thường dựa vào nhân vật truyện tranh hoặc tiếp nối các phần phim trước, Me Before You là một câu chuyện mới mẻ và độc lập. “Chỉ cần sống thật tốt. Chỉ cần sống. Yêu em, Will.” Nhân vật nam chính – Will Traynor (Sam Claflin thủ vai) – vốn là một chàng trai có mọi thứ trong đời: ngoại hình đẹp, sự nghiệp thành công, gia đình giàu có, 31 tuổi đã đặt chân tới nhiều nơi trên thế giới. Nhưng rồi tai nạn môtô biến anh thành kẻ không còn gì, phải ngồi xe lăn và cần người hỗ trợ trong mọi sinh hoạt thường ngày. Lousia là một cô gái hồn nhiên trong sáng, xuất thân từ tầng lớp bình dân. Cô luôn luôn nỗ lực để làm hài lòng tất cả mọi người xung quanh. Một cô hầu bàn tại quán café trong làng mang tên Bánh Bơ. Thông minh và cá tính nhưng Lou lại không có định hướng sống cụ thể. Và rồi họ gặp nhau. Và rồi họ yêu nhau. Tình yêu sẽ đưa bạn tới những nơi mà bạn chưa từng tưởng tượng. Đó không chỉ là chuyến du hành về mặt địa lý, đó còn là sự trưởng thành và thay đổi mà mỗi người đang yêu cảm nhận được từng ngày. “Thật là kinh ngạc đấy, không phải tất cả các cô gái đều ăn diện chỉ để làm hài lòng đàn ông.” Louisa nhận công việc chăm sóc Will chỉ vì cần kiếm tiền nuôi sống gia đình. Nhưng hóa ra cô có nhiều thứ hơn cô tưởng. Nụ cười rạng rỡ là món quà tuyệt vời nhất mà thượng đế đã ban tặng cho Lousia. Thực tế cô không phải là một người nhàm chán. Vô tình, Louisa bước vào cuộc đời Will và làm người đàn ông tưởng đã băng giá ấy cảm thấy ấm áp lần nữa. Công việc chăm sóc tuy đơn giản nhưng hợp tác với một người tự trọng và chán ngấy cuộc sống thụ động như Will thì hoàn toàn không dễ dàng. Bằng tinh thần lạc quan và tấm lòng chân thành thường trực, Louisa biến những tháng ngày cô độc, ốm yếu và tẻ nhạt của Will thành nhiều trải nghiệm vui vẻ, ý nghĩa. Mỗi lần cô xuất hiện, Will và cả khán giả đều bật cười vì những bộ trang phục lòe loẹt không ăn nhập với nhau. Bi kịch khiến Will thu hẹp cuộc sống của mình đến mức chỉ còn hoài niệm về khoảng thời gian đẹp đẽ đã qua. Sẽ có người cho rằng Will quá cố chấp và thiếu kiên cường trong cuộc sống. Lúc đầu anh xóc mỉa và không mấy tốn sức để Lou cảm thấy muốn từ bỏ. Tuy nhiên bỏ việc thì đồng nghĩa phải quay lại những công việc mà cô chán ghét như… giết gà, chuyên viên giải trí (múa cột) hay giám sát phòng chat dành cho người lớn; cả gia đình cũng mất đi nguồn thu nhập chính. Không còn cách nào khác, Lou phải xốc lại tinh thần để làm tiếp. Chính cô là người đã mở lòng với Will trước, chăm sóc anh bằng tất cả sự tử tế và nhiệt thành. Là người đơn giản và thích chuyện trò, Louisa không ngại ngần kể cho Will về bài hát trẻ con thường nghe hay sở thích đi tất ong vàng. Vẻ lóng ngóng, vụng về và không bao giờ che giấu cảm xúc khiến Louisa có lúc đáng thương, có lúc lại đáng yêu một cách kỳ lạ. Will luôn tâm niệm mỗi con người chỉ sống một lần trong đời, hãy sống trọn vẹn. Với anh cuộc sống hiện tại chỉ đơn giản là sự tồn tại mệt mỏi và đau đớn. Nên Will, từ góc độ của một người đàn ông chín chắn và trưởng thành, chỉ cho Louisa thấy rằng cuộc sống này còn nhiều điều phía trước. Cô cần phải can trường khám phá thay vì hài lòng với những gì trước mắt. Me Before You nhấn mạnh chân lý ấy qua từng câu chuyện, từng lời nói giữa cô nàng nhí nhảnh miền quê và anh chàng thành đạt phải ngồi xe lăn sau tai nạn bất ngờ. Emilia Clarke và Sam Claflin là hai diễn viên được lựa chọn để thể hiện câu chuyện lãng mạn trong phim. VUI LÒNG KHÔNG SAO CHÉP HAY SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI. Ở bên Will, Lousia có biết bao lần đầu tiên ý nghĩa – lần đầu xem phim có phụ đề, lần đầu nghe hòa nhạc cổ điển, lần đầu lặn xuống đáy đại dương. Đó không phải trải nghiệm gần gũi và hòa hợp giống người bạn trai mê điền kinh của cô đem lại, mà là cơ hội mở rộng thế giới quan để thay đổi tương lai. Còn Will, anh sẵn sàng giải thoát chính mình. Hai con người đầy sức sống nhưng bị số phận đè nén khi gặp nhau đã bùng lên tia lửa đổi thay. Sự xuất hiện của Will cũng khiến Lou phải đặt câu hỏi về mối tình 7 năm nhàm chán của cô, về người bạn trai Patrick lúc nào cũng đặt lợi ích của mình lên trên mọi suy nghĩ của cô dù không cố ý. Từ mối quan hệ “chủ – tớ”, cô chủ động biến mối quan hệ đó thành bạn bè và cả hai cảm mến nhau lúc nào không hay. Thể hiện vai nàng Louisa là “Mẹ Rồng” Emilia Clarke. Cô cho thấy một hình ảnh hoàn toàn khác khi hóa thân vào vai cô gái miền quê trong sáng, đơn giản, yêu thích những bộ đồ sặc sỡ. “Mẹ Rồng” khiến khán giả ngỡ ngàng khi diện chiếc váy bồng bềnh và vấn tóc lệch. Gây ấn tượng mạnh với toàn thể công chúng trong loạt phim truyền hình nổi tiếng Games Of Thrones, sau đó là vai nữ chính trong phim hành động Terminator: Genisys, nữ diễn viên đã có khởi đầu hoàn hảo để được lựa chọn và xuất hiện trong bom tấn tình cảm của năm, Me Before You. Tuy nhiên, vai diễn Louisa lại không hợp lắm với cô. Ngược lại, Sam Claflin bước đầu thành công với hình tượng một người đàn ông chững chạc, giỏi giang nhưng mất hết niềm tin vào cuộc sống. Cách anh yêu thương Louisa luôn có bóng dáng của lý trí – điều làm khán giả vừa cảm phục lại vừa xót xa. Sam Claflin chính là sự lựa chọn chuẩn mực cho vai tỷ phú trẻ Will Traynor. Từng gây ấn tượng mạnh với vai nam chính trong phim tình cảm “Love, Rosie”, một lần nữa chàng trai đến từ nước Anh lại làm trái tim mọi khán giả nữ đập lạc nhịp. Được viết bởi tác giả người Anh, lấy bối cảnh nước Anh và được thực hiện bởi một ê-kíp tài năng từ xứ sở sương mù, Me Before You hiện lên đẹp đẽ, lãng mạn trong từng khuôn hình. Bộ phim được quay tại châu Âu, với phần thiết kế bối cảnh và thiết kế phục trang do những tên tuổi Anh quốc đảm nhận. Ngay từ đầu phim, nữ đạo diễn Thea Sharrock không muốn nhấn chìm khán giả vào câu chuyện cổ tích gượng gạo hay đau buồn thái quá. Mọi thứ đều tươi sáng, nhẹ nhàng và thực tế, khiến khán giả muốn cười nhiều hơn là rơi lệ. Me Before You không huyễn hoặc người xem bằng một câu chuyện tình lung linh huyền ảo mà chứa đựng những lát cắt rất đời. Bộ phim không muốn kể một câu chuyện tình yêu đẹp, mà thể hiện những khoảnh khắc đẹp đẽ về tình yêu. Câu chuyện trước là tiểu thuyết, sau là phim vô cùng đơn giản, thậm chí có thể đoán trước cái kết mà chuẩn bị sẵn khăn giấy. Nhưng điều thu hút chúng ta phải chú tâm theo dõi chính là sự hấp dẫn khi thể hiện sự đồng điệu, thấu hiểu giữa hai con người thuộc hai tầng lớp khác biệt, có hai lối sống khác nhau. Đặc biệt hơn cả, những bài hát được lựa chọn cũng góp phần tạo nên linh hồn cho bộ phim này. Ba ca khúc Photograph của Ed Sheeran, Not Today của Imagine Dragons và Unsteady với sự thể hiện của X Ambassadors nhận được nhiều lượt chia sẻ từ sau khi trailer và MV của phim ra mắt. Bám sát truyện gốc, phim như lời minh chứng cho lập luận lý tính rằng tình yêu tuyệt vời khiến bạn trở thành một người tốt hơn chứ không phải biến bạn thành con người khác. Xuyên suốt phim, tình yêu không khiến Will thay đổi quyết định của mình, không thay đổi bản chất con người anh như Louisa và tất cả khán giả hy vọng. Me Before You khép lại bằng một cái kết có thể gây tranh cãi và khiến nhiều người hụt hẫng. Tại sao Will và cả đạo diễn của bộ phim lại vội vàng đến thế? Dù vậy, Lou và Will có thể không đi cùng nhau đến hết con đường, nhưng tình yêu giữa họ vẫn tồn tại và ít nhất họ đã một lần được sống. Mà run rủi thay, nếu tình yêu này chỉ là sự rung động tạm thời hay ngộ nhận của hai kẻ lang thang trong cô đơn rồi may mắn tìm ra nhau, nếu chỉ là thế thì sao? Nếu những cảm xúc váng vất hoàn toàn có thể khơi gợi những giá trị tốt đẹp tiềm ẩn, là nguồn động viên để sống dạn dĩ, can trường thì chắc chắn ai cũng cần một tình yêu như thế. Will cho đi thứ anh không cần là tiền vì cô gái trẻ đã dành tặng anh thứ anh cần nhất: sự quan tâm, sự san sẻ thấu hiểu. Cô chính ánh sáng hắt lên lần cuối của cuộc sống đã từng rực rỡ của Will. Không ai nợ ai, họ bổ khuyết và dẫn lối cho nhau. Không đao to búa lớn, lọt vào giữa tháng bom tấn hành động, khoa học viễn tưởng như một cơn gió mát thanh, Me Before You là một thông điệp tuy đơn giản nhưng lại giàu cảm hứng dành cho những người trẻ tuổi. Cuộc đời chúng ta vốn sinh ra không thể lựa chọn gia đình, hoàn cảnh nhưng hoàn toàn có thể thay đổi vào những ngày sau. Có thể không phải ai cũng may mắn tìm gặp được một Will hoàn hảo, được ai đó chắp cánh để tung bay nhưng suy nghĩ tích cực và tự tìm cảm hứng sau khi xem bộ phim ngọt ngào và lãng mạn này thì hoàn toàn có thể. Và cứ can đảm sống, cứ can đảm yêu, ai biết nay hay mai tình yêu của mình xuất hiện và liệu đó có phải định mệnh?

A Cinderella Story : Once Upon A Song

5311

A Cinderella Story: Once Upon a Song là bộ phim hài kịch thiếu niên 2011 do Damon Santostefano chỉ đạo với các diễn viên Lucy Hale, Freddie Stroma, Megan Park, Manu Narayan và Missi Pyle. Bộ phim được phát hành trên DVD vào ngày 6 tháng 9 năm 2011. Katie Gibbs (Lucy Hale), 17 tuổi, đang bị làm việc quá tải, bị bắt nạt, và bị quấy rối liên miên bởi mẹ kế Gail (Missi Pyle), cô chị tuổi teen Bev, và em trai Victor (Matthew Lintz). Cả hai đều là con riêng của Gail. Trong một giấc mơ, Katie thực hiện một video âm nhạc cho đĩa đơn của mình (“Run This Town”). Tại Học viện Nghệ thuật Wellesley, trong đó Gail là hiệu trưởng, Guy Morgan (Dikran Tulaine) – chủ tịch Massive Records, Inc. – ghi danh cho con trai Luke (Freddie Stroma). Guy muốn Luke sản xuất một buổi trình diễn sắp tới tại Học viện; Luke, tuy nhiên, kém vui mừng về chuyện theo con đường sản xuất của bố anh ấy. Anh ấy muốn trở thành một nhạc sĩ. Trở về nhà, Bev (Megan Park) muốn giành được hợp đồng thu âm với Guy. Tuy nhiên, Bev lại là một ca sĩ khủng khiếp; Cô ấy càng luyện tập nhiều, thì cô ấy lại càng tệ hơn. Trong khi Bev chào đón Luke tới chơi, Gail sà vào phòng của Katie và buộc cô phải hát. Bev cảm thấy miễn cưỡng, nhưng đồng ý tham gia chuyện này để giành được tình cảm của Luke. Katie bị choáng ngợp với giọng hát và tài năng của Luke nên đã tự mình viết một bài hát, cho Luke, để thừa nhận rằng cô ấy thích Luke. Rồi Gail xuất hiện. Gail yêu cầu Katie phải thu âm bài hát cho Bev ngay nếu không sẽ đuổi học Angela, bạn thân của Katie. Để cứu sự nghiệp âm nhạc của Angela, Katie thuận theo Gail. Trong phòng nhạc, Luke thấy Bev đang lip-sync với giọng của Katie (“Make You Believe”). Nhưng vì đã được nghe Katie giấu mặt hát tặng một lần và phải lòng giọng hát đó, anh tưởng cô gái ấy là Bev nên đem lòng yêu thương. Bev sau đó buộc Victor phải giúp cô lừa Luke bằng một thiết bị thu nhỏ giúp Katie nói chuyện với Bev, hướng dẫn cô ấy ăn nói trong cuộc hẹn với Luke. Cô và Luke hôn nhau, làm cho Katie đau lòng. Luke yêu Bev, không biết rằng tài năng ca hát và sáng tác ca khúc của cô thực sự là của Katie. Victor cũng phát hiện ra rằng tiền của gia đình cậu bé đúng ra hoàn toàn là của Katie. Cảm thấy tội lỗi vì không có mối quan hệ tốt đẹp hơn với Katie qua nhiều năm – trong khi cô ấy là người duy nhất nhớ ngày sinh của cậu – Victor đồng ý giúp phơi bày sự gian lận của gia đình mình. Sau khi đe doạ sẽ dìm chết Victor trong bồn rửa bát vì những gì cậu bé vừa làm, Gail đã buộc Katie phải hát live cho Bev ở phía sau sân khấu. Luke biết qua những gì đang xảy ra; Cuối cùng anh nhận ra rằng Bev là một kẻ giả dối, và giọng hát đó thực sự của Katie. Trong màn trình diễn của Bev, Luke đã trộm một chiếc máy quay video và quay cảnh Katie hát ở hậu trường, nhờ đó phơi bày toàn bộ trò lừa. Victor và Angela đưa Katie lên sân khấu để biểu diễn một bài hát khác (“Bless Myself”). Guy cũng yêu thích màn trình diễn của Katie, và bật đèn xanh cho Luke để sản xuất một album cho cô ấy. Ngay cả Bev cũng rất vui mừng khi được thoát khỏi mẹ cô, cô chẳng lạ gì cách lừa đảo của Gail.

Sweet November

7213

-Anh chỉ muốn duy nhất em. -Anh có em mà… mãi mãi. Người ta vẫn bảo nhau rằng tháng 11 là tháng hẹn hò, yêu đương; Để rồi xuân tới ta cưới nhau và nếu mà có lỡ nhịp thì xin hẹn nhau tháng 11 năm sau mình lại hẹn hò. Được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Herman Raucher, xuất bản từ năm 1968, nhưng phải mãi đến năm 2001, Tháng 11 Ngọt Ngào (Sweet November) mới được các nhà làm phim Mỹ dựng thành phim. Tại sao bộ phim tâm lý ra đời sau cuốn sách hàng mấy chục năm trời vẫn còn nguyên giá trị? Tại thời điểm này diễn xuất của Keanu vẫn còn đang nổi từ phim The Matrix còn Charlize Theron thì được biết đến từ phim The Legend of Bagger Vance. Nelson (Keanu thủ vai) là một anh chàng say mê công việc hơn bất cứ thứ gì trên đời. Ngủ dậy là Nelson vớ lấy điều khiển để bật tivi, đầu óc không thôi quay cuồng trong hàng đống ý tưởng còn miệng thì gặm xúc xích. Đối lập với Nelson là Sara Deever, một cô gái với cá tính quyết đoán, đầy lòng nhân ái đối với cuộc sống nhỏ bé quanh cô. Sự va chạm giữa hai cá tính đối lập này đã nảy sinh một câu chuyện lãng mạn và day dứt, chạm vào chiều sâu trái tim của bao lớp khán giả. Thời lượng : 120 phút. Công chiếu : 16/02/2001. Đạo diễn : Pat O’Connor. Biên kịch : Paul Yurick – Kurt Voelker. Hãng sản xuất : Bel Air Entertainment – Warner Bros. Có thể không phải là bộ phim đẹp nhất về tình yêu nhưng đây là tác phẩm thăng hoa cảm xúc nhất cho đôi lứa vào những ngày cuối thu, khi tháng 11 về. “Một tháng đủ lâu để có ý nghĩa và cũng đủ ngắn để thoát khỏi rắc rối” – đó là kế hoạch cho những cuộc phiêu lưu tình cảm mà Sara (Charlize Theron) – nhân vật chính của bộ phim Sweet November vạch ra cho mình. Mỗi lần xem lại Sweet November, Len đều có những cảm xúc khác nhau, có lẽ bởi đôi mắt nhìn tình yêu và cuộc sống đã có nhiều màu sắc mới, cũng như kinh nghiệm sống theo thời gian cũng được bồi đắp thêm. Sweet November nhờ đó cũng trở nên ngọt ngào, sâu sắc và thơ mộng hơn. Yêu đã khó, được yêu càng khó hơn; Cái khó chính là bạn có dám vượt qua biết bao rào cản, nỗi buồn từ sâu thẳm trong tâm hồn và cả mặc cảm thất bại. Nelson sống theo quan điểm của người phương Tây. Nghĩa là lúc nào cũng làm việc. Đến nỗi, khi đang tắm anh cũng nhắc tới công việc. Đến nỗi, cô người yêu của anh bỏ anh lúc nào anh cũng không biết. Anh “tận hưởng cuộc sống” theo cách của mình. Ngược lại với anh, Sara sống theo triết học của người phương Đông. Trong từng giây phút, cô đều cảm nhận những điều thú vị. Khi cô ngâm mình trong bồn tắm đầy bọt xà phòng, khi cô dừng lại chào hỏi một cậu bé hàng xóm, và khi cô trò chuyện với chú chó nhỏ… tất cả những thế giới khác nhau này giao hòa với tâm hồn cô. Ngay từ lần gặp đầu tiên kiểu bướng “Chí Phèo” của Sara khiến Nelson buộc phải dành thời gian chở cô đi… trộm chó và cất công đến căn hộ khá tồi tàn của Sara. Chàng thanh niên càng phát tức anh ách khi nghe cô bạn ngoài ý muốn đặt vấn đề sống chung với nhau trong vòng một tháng. Nhưng Sara đến như một cơn gió để chỉ cho anh thấy hạnh phúc không nằm ở những thứ anh đang nắm trong tay. Hạnh phúc là hơi thở cuộc sống ngoài kia, là ánh nắng, khí trời mà bấy lâu nay vì mải mê công việc mà anh quên mất. PHỤ ĐỀ VIỆT NGỮ BỞI BEGOOD SUBBING TEAM. VUI LÒNG KHÔNG SAO CHÉP HAY SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI. “Chính là đây, cuộc sống sẽ không bao giờ ổn hơn, hay ngọt ngào hơn thế này được nữa.” Phảng phất trong Sweet November bóng dáng của chuyện tình kinh điển Love Story, nhưng có những nét mới mẻ, hấp dẫn hơn của cuộc sống hiện đại, hối hả và tấp nập. Qua hàng loạt những trò đùa tinh quái và những câu chuyện nhân văn, Sara đã giúp Nelson thay đổi quan niệm về cuộc sống. Từ trong bóng đêm hai con người tìm đến với nhau, và thắp sáng cho nhau, Sara đã sống trọn vẹn tháng 11 trong tình yêu, còn Nelson đã cởi bỏ được bộ suits, cảm thấy thoải mái và tự tin với quần jeans áo thun, và hơn hết họ đã tìm thấy ý nghĩa cuộc đời. Ngoài nội dung phim triết lý, ý nhị và sâu sắc thì nhạc phim cũng là điểm nhấn rực rỡ của Sweet November, với các ca khúc đã ghi sâu vào lòng khán giả suốt bao thế hệ như “Only time,” “It’s not goodbye” hòa cùng diễn xuất điêu luyện của anh hùng Ma Trận Keanu Reeves và cả Charlize Theron. Tháng 11 Ngọt Ngào được kể theo cấu trúc ba hồi kinh điển của Hollywood. Cách kể bằng hình ảnh, tận dụng tối đa bối cảnh thật tài tình. Đó là tháng 11. Tháng của những ngày thu San Francisco buồn bã. Bờ biển hoang lạnh hơn, chiếc cầu đỏ sẫm màu hơn. Đường phố xào xạc lá rơi. Chiếc ghế gỗ nơi cầu cạn đi bộ không bóng người ngồi. Charlize Theron và Keanu Reeves được coi là sinh ra dành cho Sweet November của Pat O’Connor. Để nhận vai Sara, Charlize đã phải nhường vai Evelyn – cô y tá trong Pearl Harbor cho Kate Beckinsale. Với vẻ duyên dáng, tự nhiên trong từng cử chỉ, vẻ thông minh, lém lỉnh khi nhìn thẳng vào mắt Nelson nói: “Đừng đi mà. Vì em biết anh không muốn đâu”, Charlize đã hoá thân hoàn hảo vào vai một thiên sứ tỏa sáng với nụ cười thánh thiện. Keanu Reeves từ The Matrix (1999) sang Sweet November (2001) cũng là một sự lột xác từ một người anh hùng đầy bản lĩnh sang một người đàn ông bình thường, thất bại trong cả sự nghiệp và tình yêu. Ít ai ngờ rằng một Neo mạnh mẽ, dũng cảm của The Matrix cũng có khi trở nên đầy say đắm, đa cảm và đời thường như Nelson khi yêu trong Sweet November. Những điều lãng mạn trong cuộc sống có lẽ chẳng bao giờ thiếu vắng nếu người ta thực sự yêu thương nhau. Có lẽ phía sâu thẳm trong tâm hồn mỗi người đều giống nhau: đó là tình yêu và sự khao khát được yêu thương. Đạo diễn dàn dựng bộ phim với phong cách chủ động, thoải mái, mang đến cho người xem nhiều biến cố bất ngờ. Phải sống và yêu ngay thôi, dường như đó là lời mà Sara muốn gửi đến khán giả… khi tháng 11 về.

Flipped

4209

Bryce (Callan McAuliffe) gặp Juli (Madeline Carroll) khi gia đình cậu chuyển đến sinh sống tại ngôi nhà mới. Đó là một khu phố nhỏ, yên tĩnh với những hàng cây xanh. Bryce 7 tuổi, ngay ngày đầu tiên cùng gia đình chuyển đến thị trấn mới đã gặp cô bé Juli hàng xóm đang ngồi ngẩn ngơ ngay bên vệ đường. Juli ngay lập tức cảm thấy “tiếng sét ái tình” khi chìm vào đôi mắt của Bryce, cô bé cảm thấy trái tim mình bị “đảo ngược” ngay từ giây phút ấy. Trong khi Bryce tỏ ra hết sức lạnh lùng, thờ ơ với sự xuất hiện của cô bạn hàng xóm thì Juli lại ngay lập tức “cảm nắng” cậu bạn bảnh bao, khôi ngô này từ cái nhìn đầu tiên. Hai người trở thành bạn cùng lớp mấy hôm sau và những rung động đầu đời kèm theo những rắc rối bắt đầu chớm nở… 6 năm, chuyện Juli thích Bryce và nhằng nhẵng bám theo cậu ta thì cả trường ai cũng biết. Từ cái thời bọn trẻ con sún răng đứng bám xích đu hát đồng dao trêu chọc cô cậu cho đến khi lên cấp 2 và Bryce công khai cặp với một cô bạn mà Juli ghét nhất để chọc tức Juli thì cô bé vẫn chưa bao giờ từ bỏ tình yêu của mình. PHỤ ĐỀ VIỆT NGỮ BỞI BEGOOD SUBBING TEAM. VUI LÒNG KHÔNG SAO CHÉP HAY SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI. Trong khi Juli vô cùng nồng nhiệt thì Bryce lại ghét cay ghét đắng cô nàng và luôn tìm cách né tránh. Cứ ngỡ tình yêu đơn phương mù quáng cứ thế tiếp diễn thì đến một ngày nọ, ngày mà Juli đã gần như bỏ cuộc thì Bryce lại có cảm tình với Juli, trong khi lúc này Juli lại không còn chắc chắn về con đường trước đây mình đã chọn. Đó chính xác là câu chuyện trong Flipped. Và bạn đừng vội phán xét nó khi chưa xem, cũng đừng vội chê nó trẻ con hay sến sẩm. Thật khó có thể xếp Flipped vào nhóm những bộ phim dành cho người lớn hay người đang lớn. Câu chuyện phim xoay quanh mối quan hệ của hai bạn trẻ, dưới mái trường trung học nhưng ý nghĩa sâu sắc và nguồn cảm hứng nó lan tỏa đã lay động trái tim bất cứ ai từng đi qua quãng đời thiếu niên. Dựa trên cuốn tiểu thuyết cùng tên Flipped về câu chuyện tình thời niên thiếu của hai bạn trẻ những năm 90s, chuyện phim dựng lại lấy bối cảnh những năm 50-60, có lẽ là một sự lựa chọn tuyệt vời của đạo diễn Rob Reiner (Stand by Me, When Harry Met Sally..) để ông thổi vào phim một không gian hoài niệm với âm nhạc lãng mạn giữa thế kỷ 20, cảnh quay tuyệt đẹp và môi trường học đường thanh bình trong sáng chứ không ồn ã xập xình như những năm sau này. Biên kịch : Rob Reiner – Andrew Scheinmain. Thời lượng : 90 phút. Công chiếu : 06/08/2010. Hãng sản xuất : Castle Rock Entertainment. Madeline Carroll và Callan McAuliffe đều đã rất xuất sắc với vai diễn của mình. Cô nàng Juli từ si tình đến hờ hững, chàng trai Bryce từ hờ hững đến si tình đều đã được hai diễn viên trẻ này khắc họa sắc nét. Flipped có thể rất hoàn hảo khi dành cho những cô cậu học trò vừa mới ôm nhau khóc òa trong ngày bế giảng hôm nào, nhưng cũng hoàn hảo để dành cho bạn – một khán giả trưởng thành, người đã bước qua tuổi 15 từ thuở nào có lẽ còn không nhớ nổi… Bởi sau tất cả, ai cũng đã từng đi qua những năm tháng đó, mang trong mình những hoài niệm đó, và cũng từng rung động trước những tình cảm đó. Tuy nhiên, còn một yếu tố đặc biệt nữa khiến khán giả không quên ngay cả khi bộ phim qua đi đó là ý tưởng về thế giới nhìn từ vòm cây sung dâu của cô bé Juli thông minh, nhân hậu. Từ một chi tiết được đưa vào để hỗ trợ thêm cho nội dung câu chuyện, cây sung dâu đã trở thành một nhân vật đặc biệt của bộ phim. Flipped chạm vào trái tim của mỗi khán giả nhờ sự dẫn dắt tài hoa của đạo diễn bậc thầy Rob Reiner, một câu chuyện nhẹ nhàng tuổi thiếu niên. Cái cảm xúc có được từ Flipped rất khó diễn tả bằng lời, mà có lẽ tốt nhất là nên cảm nhận từ trái tim. Flipped dưới bàn tay của đạo diễn Rob Reiner tràn ngập cảm xúc tình cảm gia đình cũng như tình yêu ngây ngô của đôi bạn trẻ đáng yêu. Tình yêu không phải tự dưng mà có, tình yêu không phải chuyện của một người, tình yêu cần sự cố gắng, từ hai phía. Các cô gái, hãy xem Flipped, chắc chắn rằng bạn sẽ tủm tỉm cười khi chứng kiến vẻ lúng túng của Bryce khi sắp được ăn tối cùng cô gái mà cậu thích, và vẻ sụp đổ của cậu bé khi cô nàng giận dỗi, đến rồi đi mà chẳng nói một lời. Bạn cũng sẽ phải ngơ ngẩn khi chứng kiến vẻ ngẩn ngơ của cậu bé đó lúc mải mê ngắm cô bé trong giờ học, để rồi khi bị bạn bè bắt quả tang thì lấp liếm bằng lời nói dối dễ thương: “À, tại vì có con ong trên tóc bạn ấy…”. Bên cạnh những cảm xúc khó quên, những tình huống ngô nghê của tuổi học trò mà ai cũng tìm thấy mình ở đó, Flipped còn mang đến ý tưởng rất đẹp về vòm trời dưới những tán cây, cũng như cho ta thêm một lý do để dù trong trường hợp nào, cũng không chặt đổ những tán cây xanh mướt ấy. Flipped tìm được các diễn viên trẻ diễn xuất thật tuyệt vời. Juli 7 tuổi và Juli 13 tuổi không khác nhau mấy, Juli 7 tuổi là cô bé Morgan Lily đóng trong ‘2012’, Juli 7 tuổi chỉ xuất hiện rất ngắn nhưng quá đáng yêu rất ấn tượng. Juli 13 tuổi thì xuất sắc với Madeline Carroll, một lối diễn xuất và vẻ đẹp thật thông minh. Bryce của Callan McAuliffe khiến khán giả ngạc nhiên vì giọng Mỹ hoàn hảo của cậu dù cậu là người Úc. Flipped là câu chuyện của Bryce và Juli, chắc chắn thế, nhưng cũng là câu chuyện của mỗi chúng ta, những người trưởng thành cũng đã từng bước qua thời trung học với những mối tình, có thể thoảng qua mà cũng có thể sâu sắc đến nỗi trở thành hành trang mang theo suốt cuộc đời. Nếu để ví von, tôi thích ví Flipped giống như viên kẹo ngọt ngào mà ta thường ăn lúc nhỏ, đến một ngày bỗng dưng được thưởng thức lại, bao nhiêu nhớ nhung quay quắt bất chợt ùa về… Tôi đã tìm thấy viên kẹo tuổi thơ của mình sau khi xem Flipped, còn bạn, hãy thử xem…

The Great Wall

6183

Bên cạnh ba ngôi sao Hollywood gồm Matt Damon, Willem Dafoe và Pedro Pascal, đạo diễn Trương Nghệ Mưu chiêu mộ hàng loạt gương mặt nổi bật tại quê nhà cho “The Great Wall”. Đây là bộ phim đánh dấu sự trở lại của của đạo diễn tài danh sau hơn 2 năm vắng bóng trên màn ảnh rộng. The Great Wall không chỉ là dự án nói tiếng Anh đầu tiên của vị đạo diễn, mà cũng là bộ phim lớn nhất và đắt tiền nhất từng được thực hiện tại Trung Quốc, với ngân sách là 150 triệu USD. Trong tác phẩm này, đạo diễn Trương Nghệ Mưu đã tận dụng triệt để để tạo dựng lên một thế giới khổng lồ và đồ sộ với mục đích đưa loài quái vật truyền thuyết Thao Thiết trên màn ảnh rộng một cách đầy kinh ngạc. Mỗi tác phẩm của Trương Nghệ Mưu đều là một bữa tiệc đầy sắc màu hút mắt người xem. Những khán giả từng xem qua Thập Diện Mai Phục, Hoàng Kim Giáp… hay Lễ khai mạc Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008 đều có thể dễ dàng cảm nhận được dụng ý trong từng tông màu mà ông sử dụng. Lấy bối cảnh thời kỳ Bắc Tống, chuyện phim xoay quanh William Garin (Matt Damon) – thành viên trong nhóm lính đánh thuê châu Âu được cử sang Trung Quốc để đánh cắp công thức chế tạo thuốc súng. Sau khi bị phát hiện và bị tống giam bên trong Vạn Lý Trường Thành, anh đã vô tình phát hiện ra những bí ẩn đáng sợ đằng sau công trình được coi là Đệ nhất kỳ quan của thế giới. Không chỉ có Matt Damon, một trong những ngôi sao sáng giá nhất của Hollywood ở thời điểm hiện tại. Anh là cái tên bảo chứng doanh thu và chất lượng cho nhiều bộ phim như “Interstellar”, “Jason Bournce”, “The Martian”… Bên cạnh đó, việc Trương Nghệ Mưu đảm nhận vai trò đạo diễn của bộ phim cũng là một trong những nguyên nhân khiến giới chuyên môn đặt nhiều kỳ vọng. Đặc biệt, nhiều sáng tạo của Trương Nghệ Mưu trên màn ảnh rộng điều trở thành những biểu tượng kinh điển và được nhắc nhớ nhiều lần sau này dưới sự thán phục của tính đồ điện ảnh. Trong The Great Wall – tác phẩm mới nhất của vị đạo diễn tài danh cũng không hề ngoại lệ. “Mỹ nhân Bắc Kinh” Cảnh Điềm đang có những bước tiến kinh ngạc trong sự nghiệp. Trong The Great Wall, cô sắm vai Lâm Mai – vị tướng mạnh mẽ, khẳng khải đứng đầu cánh quân Phi Hạc (Crane Troop). Vạn Lý Trường Thành dùng để bảo vệ người dân khỏi sự tấn công của loài mãnh thú hung ác Thao Thiết. Được miêu tả trong truyền thuyết Trung Hoa cổ đại, loài ác thú này thường xuất hiện 60 năm một lần và với sức mạnh dữ dội cũng như bản tính tàn ác, nó là mối đe doạ khủng khiếp đối với cuộc sống của loài người. Lấy bối cảnh cuộc chiến chống lại những con quái vật Thao Thiết hung hãn của nhân loại, trong đó nổi bật lên hình ảnh 5 đạo quân Vô Danh Lệnh (Nameless Order). Đây là những hình ảnh biểu tượng cho ý chí chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên cũng như tinh thần quyết tâm bảo vệ thế giới xuyên suốt Tử Chiến Trường Thành.Đoàn làm phim của “The Great Wall” có số thành viên lên tới 1300 người, tới từ 37 quốc gia trên thế giới. Riêng đội ngũ phiên dịch đã lên tới 80 người. The Great Wall là cơ hội lớn để đưa “nam vương” Lưu Đức Hoa đến với những dự án Hollywood tiếp theo sau khi anh đã gây dựng được tên tuổi lừng lẫy tại châu Á suốt bốn thập kỷ qua. Với bom tấn của Trương Nghệ Mưu, anh vào vai chiến lược gia họ Vương, người sở hữu trí thông minh và khả năng điều binh khiển tướng kiệt xuất. Tuy có nhiều tranh luận gay gắt kể từ khi công bố diễn viên chính Matt Damon, nhưng The Great Wall đã có một cuộc khởi đầu ngoạn mục ở các phòng vé châu Á kể từ khi ra mắt hồi cuối tháng 12. Các nhà làm phim đã tái tạo lại đoạn trường thành với tổng diện tích 1km vuông và sử dụng tới hơn 200.000 viên gạch tại một phim trường lớn trong Wanda Studios ở Thanh Đảo, Trung Quốc. Đặc biệt, để tái hiện lại đúng bối cảnh lịch sử thời kỳ Bắc Tống, đoàn làm phim đã huy động 500 diễn viên quần chúng, với trang phục được chuẩn bị kỹ lưỡng, đẹp mắt, giúp tái hiện một đội quân anh dũng, oai hùng. Hơn 10 vạn binh lính tinh nhuệ được chia làm 5 cánh quân gồm Hùng Quân (Bear Troop), Lộc Quân (Deer Troop), Hổ Quân (Tiger Troop), Phi Hạc (Crane Troop) và Ưng Quân (Eagle Troop). Mỗi người trong bọn họ đều có tài nghệ riêng cùng võ công đặc biệt, hòa hợp với tinh hoa đất trời. Trương Hàm Dư đảm nhận vai Thiệu Điện Sư – vị chủ tướng già dặn, mạnh mẽ và là chỉ huy của Hùng Quân (Bear Troop), một trong năm cánh quân canh giữ Trường Thành trước sự tấn công của những sinh vật Thao Thiết ghê rợn. Sự rắn rỏi và kinh nghiệm trận mạc giúp Thiệu Điện Sư nhận được sự kính trọng từ toàn bộ lực lượng quân đội Bắc Tống. Nhân vật của Lu Han trong The Great Wall chỉ là một anh lính cấp thấp thuộc Hùng Quân. Song, chàng trai trẻ do cựu thành viên nhóm EXO thể hiện lại đóng vai trò hết sức quan trọng trong đường dây câu chuyện, đồng thời có mối quan hệ đặc biệt với người hùng William của Matt Damon. Bành Vu Yến đảm nhận vai Ngô Tướng quân, thủ lĩnh của Hổ Quân (Tiger Troop). Giống như loài hổ, anh luôn nghiêm khắc và uy dũng mỗi khi chỉ huy cánh quân của mình, điều khiển các cỗ máy bắn đá lửa, hệ thống máy chém sắt giấu trong tường thành, giúp ngăn chặn kẻ thù hiệu quả. Ưng Quân (Eagle Troop) có nhân vật thủ lĩnh do Lâm Canh Tân thể hiện. Sự quyết đoán và thị giác tinh tường biến anh trở thành chỗ dựa vững chắc cho những cung thủ hàng đầu xứ Bắc Tống. Dàn kỵ binh giáp tím, ngày đêm trấn giữ Trường Thành là Lộc Quân (Deer Troop). Họ sở hữu tốc độ như những chú hươu trong rừng xanh, luôn mở ra con đường máu thoát thân cho đồng đội khi cần thiết trong các trận chiến đẫm máu với binh đoàn Thao Thiết hung hãn. Không chỉ có cốt truyện hoành tráng, The Great Wall còn khiến người xem nín thở bởi những khung cảnh tuyệt đẹp. Những hình ảnh về cung điện hay quang cảnh khổng lồ từ trên cao được đầu tư cực kỳ đẹp mắt. Những cảnh quay đáng nhớ có thể kể đến nơi hàng trăm chiếc đèn lồng được thả lên bầu trời đêm trong một tang lễ; Một cảnh khác là những chiếc khinh khí cầu khổng lồ bay trên khắp thủ đô của Trung Quốc. Qua bàn tay tài nghệ của Trương Nghệ Mưu, hình ảnh 5 loài thần thú thường xuyên xuất hiện trong võ thuật của văn hóa Á Đông đã được thể hiện đầy oai dũng trong phim. Đồng thời, màu sắc của Vô Danh Lệnh cũng đại diện cho Ngũ hành, làm nổi bật được ý chí và đặc tính của từng đạo quân. Màu Đỏ của Ưng Quân đại diện cho Hỏa (lửa) trong Ngũ hành, hừng hực khí thế của những con người ngày đêm quan sát cho tường thành cũng như sức sát thương mạnh mẽ của đội tiễn binh. Khi quái vật Thao Thiết tấn công, ngàn vạn tiễn đồng loạt rời cung, dấy lên một trận bão lửa báo thù phục hận. Màu vàng của Hổ Quân đại diện cho Kim (Kim loại), hàm ý những công trình chiến đấu bằng kim khí họ tạo nên cùng tính kỷ luật trong cách chiến đấu của họ. Dựa vào những cỗ máy vũ khí thiết kế đặc biệt được xây dựng ẩn bên trong lớp gạch vững chắc, họ tấn công Thao Thiết như những chú hổ sử dụng bộ móng vuốt sắc nhọn tiêu diệt con mồi. Màu xanh của Phi Hạc chính là Thủy (nước). Dòng nước luôn mạnh mẽ và ồ ạt từ trên cao đổ xuống thấp như những nữ chiến binh Hạc Quân, đồng thời cũng cực kì linh động để có thể luồn lạch khắp mọi ngõ ngách hỗ trợ đồng đội khi chiến đấu. Màu Đen của Hùng Quân là Thổ, mặt đất vững chãi không bao giờ lùi bước trước kẻ thù và cũng là thứ thiêng liêng mà cả đất nước cần bảo vệ gìn giữ. Phong cách chiến đấu của Hùng Quân chính là cận chiến, họ tấn công mạnh mẽ dứt khoát để hạ gục kẻ thù trong chớp mắt khi đối diện. Những kỵ binh mặc giáp tím, ngày đêm trấn giữ trường thành. Tốc độ chính là thứ vũ khí mạnh mẽ nhất của họ. Mỗi bộ phim của Trương Nghệ Mưu ra rạp luôn mang đến kỳ vọng cao cho người xem, ông được mệnh danh là “một trong những nhà sáng tạo điện ảnh ngoạn mục nhất của thời đại chúng ta”. Trong sự nghiệp điện ảnh kéo dài 30 năm, nhà đạo diễn Trung Quốc đã mang đến những tác phẩm dược coi là những viên ngọc quý cho điện ảnh thế giới bằng các tác phẩm nghệ thuật Đèn Lồng Đỏ Treo Cao (1991), Thu Cúc đi kiện (1992), Anh Hùng (2002), Thập Diện Mai Phục (2004).

Fury

8078

Chiến tranh là một trong những chủ đề được rất nhiều các nhà làm phim quan tâm. Năm 1998 khi bộ phim Saving Private Ryan được công chiếu, 20 phút đầu của bộ phim đã làm người xem choáng váng vì độ chân thật, khốc liệt trên chiến trường. Bộ phim lấy đề tài Thế chiến II của Brad Pitt khắc họa sự tàn khốc của chiến tranh và cống hiến cho người xem những trường đoạn hành động dữ dội. “Lý tưởng là hòa bình, lịch sử lại là bạo lực” – câu nói đó của nhân vật trung sĩ Don “Wardaddy” (Brad Pitt thủ vai) đã tóm gọn nội dung của Fury. Trong mọi cuộc chiến đều có những tổn hại và mất mát, đặc biệt trong Thế chiến thứ 2. Là một cuộc chiến thảm khốc trên diện rộng và nhiều thiệt hại nhất trong lịch sử nhân loại. Bối cảnh của FURY diễn ra vào tháng cuối cùng trên chiến trường châu Âu của Thế chiến thứ II, vào tháng 4-1945 khi quân đồng minh tiến quân đợt cuối để tiêu diệt Đức quốc xã. Một sĩ quan “cứng cựa” của quân đội Hoa Kỳ tên Don “Wardaddy” Collier (Brad Pitt) chỉ huy chiếc xe tăng Sherman M4A3E8 tên FURY (Cuồng nộ) cùng bốn người lính gồm: Boyd “Bible” Swan (Shia LaBeouf), pháo thủ; Grady “Coon-Ass” Travis (Jon Bernthal), nạp đạn; và Trini “Gordo” Garcia (Michael Peña), lái chính. Giết hoặc bị giết, làm kẻ đi săn hoặc đóng vai con mồi, tất cả chỉ diễn ra nhanh trong tích tắc. Khi giết người, máu sẽ bắn đầy người, nhưng còn sống. Bộ phim về đề tài Thế chiến thứ hai của đạo diễn David Ayer phơi bày sự thật trần trụi của chiến tranh, với những màn chiến đấu tạo cảm giác “mãn nhãn” cho phần đông khán giả. Chiếc “Fury” cùng với những chiếc xe tăng khác có nhiệm vụ mở đường và tiến sâu vào thành lũy cuối cùng của quân phát xít Đức. Thử thách lớn đối với nhóm khi họ bị mất đi một thành viên là một tay súng xuất sắc. Vì thiếu người, Wardaddy được bổ sung vào đội của mình một tân binh tên Norman Ellison (Logan Lerman). Anh này vốn là nhân viên đánh máy, mới nhập ngũ 8 tuần. Hầu hết trong dòng phim chiến tranh, những đạo diễn và kịch bản của họ thường ca ngợi tình đồng đội cao cả, những giây phút thiêng liêng khi người anh hùng của cuộc chiến ngã xuống, đề cao giá trị nhân văn của tình người mà quên mất rằng, cuộc chiến nào cũng có mặt trái, những mặt mà không ai muốn nhắc đến, những mặt tối, sự khốc liệt đến độ mất nhân tính của chiến tranh. Chỉ cách đây vài phút trước chúng ta còn sống, phút sau đã có người phải về với đất mẹ. Dưới sự dìu dắt của những đàn anh, Norman được biết thế nào là sự tàn khốc của chiến tranh và tình đồng đội cao cả… Từng là biên kịch của bộ phim nổi tiếng Training Day và đạo diễn các tác phẩm nhiều cảnh bạo lực như Street Kings và End of Watch, David Ayer đã thành công trong việc thể hiện ngôn ngữ hình ảnh trong Fury. “Lý tưởng là hòa bình, lịch sử là bạo lực” câu nói của trung sĩ Don đã phản ánh nội dung của câu chuyện. Có thể đối với những người lính khi họ chiến đấu nhân danh cái tốt hay vì bất cứ một ý nghĩa gì khác dù là tự nguyện hay bị ép buộc thì việc cần súng bắn vào người khác đều là giết người, nhưng đối với họ là “giết hoặc bị giết”. Ở đâu đó ngoài kia, trong những cuộc chiến chưa bao giờ dừng ở khắp nơi trên thế giới, khung cảnh tàn khốc như trong FURY là có thật – và biết đâu còn kinh hoàng, còn đau thương hơn trên màn ảnh gấp nhiều lần. Wardaddy và những người lính cũ của anh từng sát cánh bên nhau từ chiến trường Bắc Phi. Những trận chiến đã kết nối họ với nhau thành một khối thống nhất, dù rằng mỗi người là một cá thể riêng biệt với xuất thân khác nhau, tính cách mâu thuẫn nhau. Đã có rất nhiều bộ phim nói về chiến tranh, nhưng lại chưa từng có bộ phim nào trước đây nói về cuộc sống của những người lính bên trong cỗ máy được mệnh danh “vua chiến trường” cả. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, Adolf Hitler tổng động viên toàn nước Đức đứng lên chống lại quân Đồng Minh. Tông màu đen tối, u ám của bộ phim thể hiện rõ bầu không khí căng thẳng đến ngột ngạt của cuộc chiến tranh lớn nhất lịch sử loài người đang trong thời điểm trôi dần tới kết thúc. Những con đường lầy lội giữa bùn đất và máu, những ngôi làng Đức tan hoang vì bom đạn, những đống xác lính tử trận chất đầy… xuất hiện ngay từ những thước phim đầu tiên để lại ấn tượng mạnh cho khán giả về hình ảnh chiến trường khốc liệt. Có một người phụ nữ trong trang phục váy cưới trong đám đông tị nạn, một bà già cắt thịt những con ngựa đã chết ở ven đường, và xác chết ở khắp mọi nơi. Fury không hề có gào thét hay hoảng loạn, chỉ là hình ảnh khói lửa và làng mạc bốc cháy, những ngôi nhà sụp đổ trong nháy mắt. Không chỉ đàn ông, mà cả phụ nữ và trẻ em cũng phải ra trận. Cảnh vật u ám, tang tóc đến mức sởn da gà. Một địa ngục trần gian. Sự dữ dội ấy của cuộc chiến không chỉ thể hiện ở bên ngoài mà còn ở cách mà nó có thể thay đổi một con người. Trong chiến tranh, không có chỗ cho sự khoan dung hay nhân nhượng, khi mà sinh mạng con người có thể bị định đoạt chỉ bằng một giây chần chừ. Tân binh Norman ban đầu còn nhìn chiếc xe tăng một cách lạ lẫm và nôn mửa khi thấy máu và xác người, cho đến khi chính tay tiêu diệt kẻ thù và nói “đây là việc tốt nhất tôi từng làm”. Rõ ràng chiến tranh đã hủy hoại cả thể xác lẫn tâm hồn những người lính khi họ không thể lựa chọn. Boyd là một người sùng đạo và thường xuyên trích dẫn Kinh Thánh, Grady là một anh chàng có phần bỗ bã nhưng vẫn biết phải trái đúng sai và một Trini người Mexico hơi đa cảm. Đáng quan sát nhất vẫn là Don “Wardaddy” Collier. Lần đầu tiên Norman nhìn thấy người chết trước mặt mình là khi cậu ngần ngại không xả đạn vào đám lính Đức đang nấp trong bụi cây ven đường. Đó chỉ là những đứa trẻ, cậu đặt tay lên cò súng nhưng không xả đạn. Để rồi từ trong bụi cây, một đứa trẻ cầm một khẩu pháo cối nã thẳng vào chiếc xe tăng chỉ huy đi đầu làm 4 người lính chết cháy, người thứ 5 sau khi cố gắng chui ra khỏi chiếc xe đã rút súng tự sát để tránh đau đớn. Sau khi bắn chết đám lính Đức, Don vô cùng tức giận và nhảy bổ vào túm lấy cổ áo Norman mà lắc và chửi: “Norman, thằng chó, tại sao cậu không bắn? Cậu đã thấy mấy thằng ranh con làm được gì chưa? Nhìn đi, đó là lỗi của cậu, là do cái lỗi ngu đần của cậu. Lần sau thấy thằng Đức nào cầm vũ khí, xả đạn chết con mẹ nó luôn. Dù nó là đứa bé một tay cầm dao cắt bơ, tay kia sờ ti mẹ thì tôi cũng đéo quan tâm. Đm, phải băm vằm nó luôn”. Đó là một trong những phân cảnh rất đắt, rất giá trị, cả về lời thoại lẫn cảnh quay để thể hiện cho người xem thấy sự khốc liệt của chiến tranh. Từng có câu nói “Những ai thực sự muốn tham gia chiến tranh đều chưa từng trải nghiệm nó”. Fury khắc họa sự tàn khốc của chiến trận chứ không tô vẽ, để người xem cảm thấy rùng mình trước những hậu quả mà nó đem lại cho thể xác và tâm lý con người. Với khuôn mặt luôn lấm lem bùn đất, một cái đầu lạnh và tài lãnh đạo dày dặn kinh nghiệm. Don Collier được cả nhóm tin tưởng giao cả tính mạng cho anh. Ở viên hạ sĩ quan này có đủ hai mặt của một con người – cũng là hai mặt của một cuộc chiến. Don nghiêm khắc, lạnh lùng đôi khi đến mức tàn nhẫn. Nơi đây, nếu anh chỉ cần chần chừ một giây thôi thì người nằm xuống là anh và đồng đội. Giữa địa ngục chiến trường, đâu đó trong những phân cảnh hiếm hoi vẫn xuất hiện tiếng cười giòn giã của những người lính với những câu chuyện đùa bậy bạ về tình dục và phụ nữ. Có thể ví nhân vật Wardaddy như một người thầy dìu dắt cậu học trò Norman, khi trung sĩ do Brad Pitt thủ vai thể hiện rõ sự quan tâm với nhân vật này dù cách thể hiện của anh mang vẻ lạnh lùng. Từng thủ vai một chiến sĩ diệt Phát xít trong Inglorious Basterds của đạo diễn Quentin Tarantino, Pitt không gặp khó khăn gì trong việc đảm nhiệm Wardaddy. “WarDaddy” khắc nghiệt, lạnh lùng nhưng cũng rất nhân hậu qua sự thể hiện tuyệt vời của Brad Pitt. Cả nhóm chinh chiến bên nhau suốt dọc từ Châu Phi cho tới Châu Âu và đối diện với những khoảng khắc cận kề cái chết, mặc dù có những lúc nảy sinh xung đột nhưng trên chiến trường họ thể hiện vô cùng ăn ý. Sau mỗi lần tỏ ra lạnh lùng, vô cảm hay tàn nhẫn lại là một Don bị giằng xé và suy sụp bởi sự tàn khốc của cuộc chiến. Anh buộc phải tỏ ra mạnh mẽ hơn những gì anh cần để làm bệ đỡ tinh thần cho đồng đội. Để rồi sau khi cận kề và thoát khỏi cái chết chỉ trong đường tơ kẽ tóc, họ ôm chầm nhau, thở phào nhẹ nhõm khi vừa được nhìn thấy cửa âm phủ. Brad Pitt đã làm tròn vai của một ngôi sao hạng A khi tỏa sáng khi cần và Logan Lerman, với vẻ mặt búng ra sữa nhưng có hồn, ánh mắt và sự run rẩy sợ hãi của một tân binh trong những phân cảnh đối mặt cái chết đã làm người xem ấn tượng và hiểu thêm về địa ngục chiến trường. 5 diễn viên chính có sự kết nối ăn ý trên màn ảnh, giúp khán giả cảm nhận được tình đồng đội gắn bó giữa họ. Hai diễn viên Shia LaBeouf và Lorgan Lerman đã có màn thể hiện tốt, đặc biệt là Lerman khi anh rũ bỏ hình ảnh chàng Percy Jackson vốn quen thuộc với khán giả. Có thể nói đạo diễn David Ayer rất khôn ngoan khi không cần lồng ghép những tình tiết đao to búa lớn nhưng những chi tiết rất nhỏ như việc Boys Swan nhắc nhở Norman ăn uống để “WarDaddy” thấy, dù chỉ là những câu bông đùa trong những phút nghỉ ngơi hiếm hoi nhưng cũng đủ làm khán giả cảm nhận được tình cảm đồng đội mà họ giành cho nhau. Chính sự tinh tế ấy giúp phim bớt cảm giác nặng nề. Nhiều người nói răng Fury của đạo diễn David Ayer có thể sánh ngang cùng Saving Private Ryan của đạo diễn Steven Spielberg, nhưng thực sự Fury còn thiếu một chút gì đó để trở thành một bộ phim xuất sắc, hoặc cũng có thể do ôm đồm quá nhiều nhiệm vụ đã khiến Fury trở nên nặng nề và dài hơn bình thường rất nhiều với 134 phút của mình. Một bộ phim có nội dung đơn giản, tiết tấu không quá chậm, phần nào đấy đã khắc họa sự khắc nghiệt và mất mát mà chiến tranh mang lại.

Allied

7475

-Rất nhiều anh chàng ghen tị đang nhìn anh bằng ánh mắt độc ác lắm đấy. -Đó là bởi vì họ biết em yêu anh. Allied đánh dấu sự tái xuất của nhà làm phim từng giành giải Oscar “Đạo diễn xuất sắc” cho Forrest Gump (1994). Đây cũng là phim mới của ông sau The Walk gây thót tim hồi 2015. Allied là một bộ phim về đề tài điệp viên, xoay quanh câu chuyện về Max Vatan (Brad Pitt) và Marianne Beausejour (Marion Cotillard). Nhằm thực hiện thành công nhiệm vụ mưu sát đại sứ Đức, họ phải giả làm một cặp vợ chồng. Allied lấy bối cảnh thời gian năm 1942. Đây là thời điểm quân đội Đồng minh có những bước tiến quan trọng tại mặt trận Bắc Phi khi Thế chiến thứ II đang đi đến giai đoạn cao trào. Chọn một đề tài quá hấp dẫn là gián điệp, tình báo, lại có thêm hai diễn viên chính đẹp như thơ, Allied đã hoàn toàn có đủ chất liệu để trở thành một bộ phim nóng bỏng tay. Mỗi lần Max Vatan và Marianne Beauséjour sánh đôi cùng nhau, người xem lại có cảm giác khó thở vì quá đẹp! Đặc biệt là nàng – một vẻ đẹp Pháp kiêu kì, quý phái, nồng nàn như một ly vang đỏ mà chắc chắn gã đàn ông nào cũng muốn uống đến cạn bình! Tác phẩm mở màn bằng cảnh một người đàn ông diện đồ quân phục, đơn độc thả dù xuống sa mạc Morocco. Anh rơi như trôi giữa biển cát vàng rồi thình lình va chạm mạnh với mặt đất. Mọi âm thanh ào tới và câu chuyện trở thành chuyến tàu tốc hành đưa người xem ngược về quá khứ những năm 1940 nhiều hoài niệm. Max (Brad Pitt), một sĩ quan không quân người Canada được giao nhiệm vụ vào Casablanca, hợp tác cùng nữ chiến sĩ người Pháp Marianne (Marion Cotillard) đi giết tướng Đức quốc xã. Càng ngày, mối tình thật của vợ chồng hờ càng nồng cháy. Tuy thường xuyên phải đối mặt với kẻ thù nhưng mỗi người cũng tự đặt ra những thử thách dành chính đồng đội của mình. Chàng luôn thủ sẵn vũ khí trong người để đề phòng, trong khi nàng lại cố tình giăng bẫy đối phương bằng sức hút khó cưỡng của một người phụ nữ xinh đẹp, thông minh. Khi kế hoạch ám sát thành công, tình yêu thực sự giữa hai người đã nảy nở, và Max quyết định đưa Marianne trở về London, Anh để làm đám cưới. Brad và Marion là một cặp vợ chồng không thể hoàn hảo hơn ở phương diện ngoại hình. Allied, với tất cả những tình tiết lắt léo và hình ảnh hoa mỹ tráng lệ của mình, mới chính là điều sẽ làm trái tim ta thổn thức. Tuy lý tính mách bảo họ kiềm chế tình cảm với đối phương, nhưng cả hai khó có thể điều khiển con tim mình. Sau khi cùng nhau quan hệ trong trận bão cát và trải qua những khoảnh khắc khó quên khi thực hiện nhiệm vụ, Max và Marianne nhận thấy họ cần có nhau trong đời. Giữa khung cảnh loạn lạc, Max ngỏ lời với người tình: “Khi cuộc chiến này kết thúc, em hãy đến London và làm vợ anh nhé”. Đáp lại lời cầu hôn, Marianne khẳng định: “Em yêu anh bằng cả trái tim mình”. Song, hạnh phúc ấy chỉ kéo dài đúng một năm. Cơ quan tình báo Đồng minh bí mật thông báo với Max Vatan rằng người vợ mà anh yêu thương nhiều khả năng là gián điệp của Phát xít Đức. Anh được lệnh phải xác minh sự thật trong vòng 72 giờ. Nếu vợ anh đúng là gián điệp, anh sẽ phải tự tay kết liễu cô. Những phân cảnh hành động trong phim được dàn dựng tỉ mỉ, cùng với đó là sự xuất sắc từ trang phục cho đến bối cảnh. Nhà soạn nhạc Alan Silvestri, quay phim Don Burgess và nhà thiết kế phục trang Joanna Johnston đã đem đến cho khán giả một Allied theo phong cách xưa cũ của Hollywood. Quá nóng lòng và không thể chờ đợi kết quả từ cấp trên, Max Vatan bèn trái lệnh tự mình điều tra sự thật, đi tìm kiếm câu trả lời cho chuyện người phụ nữ mà anh nhất mực yêu thương, tin tưởng suốt bấy lâu nay là ai. Allied là sự đổi mới khá thú vị khi nhà biên kịch Steven Knight và đạo diễn Robert Zemeckis quyết định kết hợp thể loại điệp viên/trinh thám với tâm lý/lãng mạn. Người sĩ quan phải đứng trước những lựa chọn đầy nghiệt ngã, giữa tình yêu và lý trí, giữa trách nhiệm và sự thật. Marion Cotillard là điểm sáng nhất trong tác phẩm lãng mạn và giật gân. Khung cảnh picnic lãng mạn ngay nơi chiếc máy bay chiến đấu bị bắn hạ thực sự ghi lại dấu ấn mạnh mẽ đối với khán giả. Nụ cười viên mãn của Marianne và ánh nhìn đầy thương yêu, pha lẫn sự chua xót của Max trong một không gian đổ nát thể hiện sự mong manh đến nghiệt ngã của tình yêu trong bối cảnh chiến tranh. Và có một điều trùng hợp rằng đây đã là bộ phim mang đề tài Thế chiến thứ II thứ ba mà Brad Pitt tham gia, sau Inglourious Basterds(2009) và Fury (2014). Allied không mang đậm tính hành động, dù tác phẩm vẫn chứa đựng một vài phân cảnh cháy nổ, tuy ngắn ngủi nhưng diễn ra khá kịch tính. Giữa khung cảnh bom rơi đạn nổ, những hình ảnh của Marianne luôn rực rỡ và đầy ánh sáng như đóa hoa nở rộ trong trái tim băng giá của viên trung tá Max. Nữ diễn viên thể hiện nhân vật có chiều sâu nội tâm dù không có nhiều đất diễn. Nửa đầu của Allied tái hiện rất tốt không khí những năm 1940 của Casablanca, thành phố nổi tiếng qua thi ca, điện ảnh. Phần phục trang, thiết kế sản xuất và bối cảnh đều được đoàn làm phim chăm chút kỹ lưỡng, gây thiện cảm cho người xem. Xuyên suốt phim, nữ minh tinh Pháp thay đổi hình ảnh nhuần nhị từ tinh khiết trong bộ váy trắng xếp li giữa phố thị Casablanca, mạnh mẽ trong bộ quân phục giữa sa mạc, tới như gián điệp hai mang với vỏ bọc được giấu kín mà không ai dám chắc về điều này. Chất giọng Pháp quyến rũ, biểu cảm gương mặt đa dạng, vẻ kiều diễm của Marion Cotillard trên màn ảnh thành chất kết dính nâng đỡ cho một kịch bản còn nhiều điểm chưa thuyết phục. Brad Pitt nhập vai sĩ quan Max một cách trọn vẹn. Ở nửa đầu của bộ phim, anh thể hiện bản thân như một quý ông, lịch thiệp, hòa nhã. Nhưng càng về sau, diễn biến tâm trạng của Max càng trở nên phức tạp hơn. Anh thất thần, và không thể giấu được những bất ổn trong lòng, khi buộc phải nghi ngờ chính người phụ nữ mà mình yêu nhất. Đẳng cấp của Brad Pitt và Marion Cotillard giúp cho câu chuyện của Max – Marianne trở nên cuốn hút. Nếu như chàng bảnh bao, trầm tính, tỏ ra bản lĩnh, thì nàng kiều diễm, sắc sảo, và khéo ăn nói. Ngoài Marion Cotillard, phim chiếm cảm tình người xem bằng những khung hình tinh tế đầy màu sắc cổ điển. Những lát cắt dịu dàng dẫn người xem vào một sớm mai tươi sáng trên đường phố Casablanca đỏ bụi, giữa một quán cà phê nhỏ xinh khi Max và Marianne lần đầu ăn sáng cùng nhau. Zemeckis đã khiến khán giả căng thẳng đến những giây phút cuối cùng. Sự lãng mạn của tình yêu được xây dựng xuyên suốt mạch phim, thông qua diễn xuất tài tình của hai nhân vật chính, và sự kết hợp của âm nhạc, hình ảnh. Chính sự phối hợp duyên dáng và ăn khớp trên màn ảnh của Brad Pitt và Marion Cotillard đã giúp chuyện tình của hai nhân vật chính trở nên thuyết phục hơn, dù nó diễn ra khá chóng vánh. Có thể khẳng định Max Vatan – Marianne Beauséjour là một trong những bộ đôi đẹp nhất trên màn ảnh năm qua. Trong các buổi tiệc hai nhân vật chính đi cùng nhau vì công việc, người xem trầm trồ trước bộ váy xanh ngọc khiến Cotillard đẹp tựa nữ thần còn Pitt mạnh mẽ trong bộ quân phục xanh. Để rồi về sau, cảm xúc chậm nhịp dần theo tông màu âm u của nhiều cơn mưa thường xuyên làm ướt phố London trong những ngày Max bị dằn vặt vì nhiệm vụ sinh tử. Hành trình điều tra thân phận vợ mình của Max Vatan không thiếu những giây phút kịch tính, căng thẳng, những khoảnh khắc bất ngờ, bùng phát, dù cách kể chuyện mà Robert Zemeckis chọn lựa vẫn còn tương đối dài dòng. Bù lại, thông điệp ca ngợi niềm tin, tình yêu và đức hy sinh ở cuối Allied là rất ấn tượng, khi Marianne Beauséjour được trở lại nhiều hơn. Phong cách nửa lãng mạn nửa ly kỳ thường thấy trong những tác phẩm kinh điển như Casablanca và Notorious được đạo diễn Zemeckis cùng biên kịch Steven Knight vận dụng ở phim mới. Được đầu tư hình ảnh cẩn thận, phim đẹp mắt và đủ độ hoài cổ để gợi khán giả về những câu chuyện tình yêu trên màn ảnh gần một thế kỷ trước. Allied là dự án điện ảnh đầy tham vọng của Robert Zemeckis và cộng sự. Nhìn chung, đây là một tác phẩm tốt, nhờ các yếu tố kỹ thuật và sự kết hợp ăn ý của Brad Pitt – Marion Cotillard trên màn ảnh.

Autumn in New York : Mùa Thu ở New York

4209

New York, tại sao lúc nào cũng như quá mời gọi ?” Để trả lời cho câu hỏi trên, Len nghĩ các bạn nên xem bộ phim này. Bộ phim xoay quanh cuộc tình đẹp, buồn và đầy bất hạnh giữa hai con người thuộc hai thế hệ mang mặc cảm và tổn thương về tinh thần. Will (Richard Gere) là người mắc nỗi sợ phải cam kết lâu dài và ám ảnh về sự ràng buộc trong tình cảm và Charlotte (Winora Ryder), một cô gái trẻ trung, quyến rũ, nhưng lại đang mắc bệnh hiểm nghèo. Họ tìm thấy nhau và tình yêu chớm nở tự nhiên như ánh nắng, như khí trời trong khuôn viên đầy nên thơ, trữ tình tại Central Park… Thể loại : Chính kịch, lãng mạn. Thời lượng : 103 phút. Công chiếu : 11/08/2000. Đạo diễn : Joan Chen. Biên kịch : Allison Burnett. Hãng sản xuất : Lakeshore Entertainment. Sẽ ra sao nếu bạn không tin vào tình yêu ? Sẽ ra sao nếu bạn gặp một người mà bạn không thể sống thiếu ? Anh ấy không thể hứa hẹn những điều mãi mãi… Cô ấy chỉ có một khoảnh khắc để trao gửi… Anh ấy đã dạy cho cô ấy cách sống. Cô ấy dạy cho anh ấy cách yêu. Anh ấy phải lòng lần đầu tiên. Cô ấy phải lòng mãi mãi. Khung cảnh mùa thu đẹp tuyệt vời ở New York như tăng thêm phần sâu sắc cho bộ phim. Câu chuyện tiếp diễn với rất nhiều chi tiết buồn đau, nhưng cuối cùng, vượt lên trên tất cả là bài học về lòng vị tha và sự bao dung giúp cứu rỗi hồn người. Người xem hẳn sẽ khó có thể quên những khuôn hình trầm ấm như nắng mùa thu được bao phủ bởi những thảm lá vàng ngập lối trên từng bước đường của tình yêu lứa đôi…Một chi tiết đẹp cũng không thể bỏ qua đó chính là mùa thu đầy màu sắc ở Central Park được quay từ nhiều góc trên cao. Len vẫn hay được mọi người gọi đùa là “kho phim của Begood”. Len thì nghĩ, mình chỉ đơn giản là một kẻ thích cảm nhận mọi điều qua khuôn hình. Hãy xem bộ phim này bạn ạ, để được lắng mình lại một chút giữa cuộc đời hối hả này, để thấy mọi thứ có thể đẹp đẽ đến nhường nào, để biết quý trọng hơn những giây phút ta còn có bên cạnh những người thân thương. Hãy cứ nhìn Will, nam chính của bộ phim này, sự thẫn thờ trong đáy mắt anh, khi người con gái anh yêu, người mà anh phải đấu tranh với chính bản thân mình để giữ lại, người thay đổi được con người anh, người mấy ngày trước vẫn còn tỏa hơi ấm trong vòng tay anh, người chỉ vài chục phút trước khi vào phòng mổ vẫn còn ngước mắt nhìn anh… đã vĩnh viễn không còn tỉnh lại nữa. Lắng lại một chút thôi, bạn nhé ?

Brokeback Mountain

Brokeback Mountain là một bộ phim Mỹ của đạo diễn Lý An được trình chiếu vào cuối năm 2005. Phim đoạt giải Oscar 2006 cho Đạo diễn xuất sắc nhất, Kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất, Nhạc phim hay nhất. Heath Ledger và Jake Gyllenhaal đã cống hiến hết mình để thể hiện mối tình cháy bỏng nhưng bị kỳ thị của 2 người đàn ông. Cùng với bàn tay tài tình của đạo diễn Lý An, bộ ba đã đưa Brokeback Mountain trở thành một trong những tượng đài phim đồng tính của thế giới. Brokeback Moutain ra đời đã để lại một vết ghi khắc hằn trong tim cho mọi thế hệ người xem. (Bài viết có tiết lộ nội dung, cần cân nhắc trước khi đọc). Chuyện “Brokeback Mountain” để “Crash” vượt mặt và trở thành “Phim truyện xuất sắc” tại Oscar 2006 là một trong những thất bại gây sốc nhất của lịch sử giải thưởng điện ảnh này. Sau khi bộ phim ra mắt, khán giả cảm thấy kinh ngạc và nhiều cuộc tranh luận về đạo đức cứ thế nổ ra. Phỏng theo một truyện ngắn của tác giả E. Annie Proulx (từng đoạt giải Pulitzer), Brokeback Mountain nói đến mối tình giữa hai chàng cao bồi ở miền Tây Hoa Kỳ vào những thập niên 1960, 1970, 1980. Bộ phim được dàn dựng cùng với nền nhạc của phim là tiếng đàn ghi-ta có âm hưởng lúc thì sâu lắng, lúc thì phóng khoáng và lãng mạn. Đạo diễn người Đài Loan Lý An đã quyết định đưa chuyện tình nhân văn và đẫm nước mắt này lên màn ảnh. Hai người đàn ông Ennis del Mar (diễn viên Heath Ledger) và Jack Twist (Jake Gyllenhaal) quen nhau vào năm 1963 trong lúc cả hai cùng nhận việc chăn cừu tại Wyoming, miền tây Hoa Kỳ. Hai nhà biên kịch Diana Ossana và Larry McMurtry quyết định sẽ đưa tác phẩm lên màn ảnh nhỏ chỉ sau một lần đọc thử. McMurtry nói: “Thậm chí chưa đọc xong một nửa, tôi đã biết đây là một tuyệt tác”. Khi ấy, đạo diễn Lý An đã có những dấu ấn riêng trong sự nghiệp khi ông thường tự thử thách bản thân, từ dòng phim chính kịch với Sense and Sensibility, võ thuật với Ngọa hổ tàng long, cho tới siêu anh hùng với The Hulk. Nhưng việc ông tìm đến chủ đề cao bồi đồng tính vẫn là một quyết định khiến nhiều người ngạc nhiên. Tuy bối cảnh là Wyoming, phim này đã được quay tại Alberta, Canada. Hai nhân vật chính của phim có cùng hoàn cảnh: đều sống xa bố mẹ từ bé, không người thân thích khác và phải ra ngoài xã hội lao động để tự nuôi sống bản thân. Sự đồng cảm giữa hai người phải trải qua nhiều vất vả trong cuộc sống đã khiến họ trở nên thân thiết. Thời gian ở Wyoming, cùng bao bọc, bảo vệ nhau trước cuộc sống mùa đông khắc nghiệt ở đây đã khiến hai người nảy sinh tình cảm, thứ tình cảm khác thường và bị cấm cản bởi xã hội thời đó. Vì e sợ định kiến xã hội và sự ghét bỏ của người chung quanh với tình yêu đồng tính lúc bấy giờ, Jack và Ennis cố ép mình lấy vợ, sinh con. Tình yêu của hai người bị đè nén và dằn vặt qua nhiều năm tháng, mãi đến khi Jack chết đi và Ennis sống với kí ức về người yêu đến cuối đời, anh mới hiểu rõ tình yêu của mình sâu đậm dường nào. Phần sau của phim kể lại quan hệ giữa hai người trong khoảng 20 năm từ khi họ gặp lại nhau. Sau khi hai người chia tay, Ennis lập gia đình và có con với Alma Beers (Michelle Williams). Jack thì đến Texas và kết hôn với Lureen Newsome (Anne Hathaway). 4 năm sau, hai người vô tình gặp lại khi đều đã có gia đình riêng. Không thể trốn tránh tình cảm của mình, Ennis và Jack lén lút, giấu giếm để qua lại với nhau. Diễn viên Jake Gyllenhaal không phải là sự lựa chọn số 1 cho vai Jack, nhưng anh đã đưa nhân vật Jack sống dậy một cách linh hoạt, tự nhiên. Heath Ledger còn hơn cả những gì nhà biên kịch tưởng tượng về vai Ennis. Trong cuộc chạy đua tới các giải thưởng điện ảnh, Brokeback Mountain phải cạnh tranh với nhiều đối thủ có nội dung chính thống và dễ thu hút đông đảo khán giả đại chúng hơn. Ngay trong giới phê bình và những người trong nghề cũng xảy ra luồng ý kiến trái ngược. Jack muốn sống với Ennis, nhưng vì Ennis bị ám ảnh bởi một sự kiện lúc còn nhỏ khi một người bị nghi là đồng tính bị giết, nên không chấp thuận. Hơn thế nữa, Ennis đã có gia đình, không thể bỏ nhà đi theo Jack được. Thứ tình cảm sâu đậm bị cấm đoán giữa Ennis và Jack đã tạo nên một trong những chuyện tình cảm động nhất trên màn ảnh. Những lần hiếm hoi gặp nhau, Ennis và Jack đều không thể kiềm chế tình cảm lúc nào cũng cuồn cuộn chảy trong lòng mình. Khi xem phim, khán giả được thấy một khía cạnh khác của tình yêu đồng tính. Đạo diễn Lý An đã thể hiện tài năng tuyệt vời của mình khi vừa bám sát cốt truyện vừa khắc họa một tình yêu thật đẹp, thật xúc động. Có nhiều nhà phê bình đánh giá rất cao Brokeback Mountain; nhưng cũng có không ít người đưa ra ý kiến đối lập. Chẳng hạn như hai diễn viên kiêm thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh (AMPAS) là Tony Curtis và Ernest Borgnine từng có những phát biểu công khai chỉ trích bộ phim. Sự thành công của bộ phim chính là nhờ màn nhập vai tuyệt đối của hai nam diễn viên Heath Ledger và Jake Gyllenhaal. Đặc biệt với cố diễn viên Heath Ledger, nhân vật Ennis Del Mar của anh đã để lại cho khán giả nỗi buồn không thể xoa dịu được. Bất kì ai khi xem phim cũng không còn quan trọng chuyện đó là hai người đàn ông yêu nhau nữa, cái duy nhất còn đọng lại trong đầu họ đó là tình yêu giữa hai người. Có rất nhiều hình ảnh đẹp trong phim, nhưng 2 cảnh phim làm người xem ghi nhớ và ám ảnh nhất có lẽ là cảnh Ennis ôm Jack từ đằng sau và cảnh cuối cùng khi Ennis treo chiếc áo sơmi cũ của Jack lên. Đó là lúc khán giả cảm nhận được sự hối tiếc dâng trào và nỗi buồn không gì che giấu được, qua đôi mắt đỏ hoe của Ennis và lời thoại dở dang như chuyện tình của hai người. Heath Ledger thật sự là một diễn viên xuất sắc, nỗi buồn mênh mang trải dài trong rạp sau phân đoạn của anh. Ennis luôn bị ám ảnh bởi ý nghĩ Jack bị giết vì đã bị khám phá là đồng tính. Lurleen cũng cho Ennis biết rằng Jack muốn tro mình được rải trên khắp núi Brokeback, và Lurleen gợi ý Ennis xin phép cha mẹ Jack để đem tro Jack đến đó. Lurleen nhấn mạnh rằng, trong những giây phút cuối đời, Jack chỉ nói đến người bạn thân thiết và nói là trong đời, Jack không bao giờ quên những giây phút trên ngọn núi Brokeback, cả mùi vị của loại rượu anh đã uống ở đó. Ennis cũng khóc và nói với Lurleen rằng, anh chính là người bạn đó của Jack. Bầu không khí trong Brokeback Mountain lúc nào cũng khiến khán giả buồn bã. Thứ tình cảm mong manh giữa hai người càng bị ngăn cấm lại càng mạnh mẽ nhưng rồi ai cũng hiểu được họ sẽ không bao giờ đến được với nhau. Cuối cùng Jack ra đi, để lại trong lòng Ennis sự cô đơn và nỗi buồn không cách nào có thể chữa lành.

A Guy Thing

6089

“Khi một cô gái yêu một chàng trai, bạn sẽ biết được điều đó qua cái cách cô ấy nhìn anh ấy…” Còn khi một chàng trai yêu một cô gái thì sao ? A Guy Thing là bộ phim dẫn dắt bạn đến với câu chuyện của một chú rể sắp cưới khi anh ấy thức dậy trên giường của mình vào buổi sáng sau đêm tổ chức tiệc độc thân cùng với… một người phụ nữ khác. Cho rằng họ đã ngủ với nhau, Paul vội vã đẩy cô gái Becky này ra khỏi căn hộ của anh ấy và hy vọng không bao giờ gặp lại cô ấy nữa. Anh ấy với bản tính thật thà hiền lành của mình đã luôn cố gắng che giấu chuyện này với cô vợ sắp cưới tinh ranh, thông minh và hay ghen để rồi tự thấy mình rơi hết vào tình huống dở cười này đến tình huống dở khóc khác. Khi ở bên gia đình cô, anh luôn luôn bị lo lắng, đặc biệt là khi bố cô chính là sếp của anh, và vừa mới giao cho anh một công việc quan trọng trong chuyện kinh doanh của gia đình. Mà còn hay ho hơn, khi cô gái Becky ngủ cùng anh hôm đó lại chính là chị họ của Karen, vợ sắp cưới của anh. Cùng với một khởi đầu đầy điểm nhấn, bạn sẽ thừa nhận rằng vai diễn này chính là dành cho Jason Lee, sớm thôi, bộ phim sẽ có đủ những bất ngờ và những khoảnh khắc vui nhộn để giữ cho bạn xem tới cuối. Thể loại : Hài hước, lãng mạn. Thời lượng : 101 phút. Công chiếu : 17/01/2003. Đạo diễn : Chris Koch. Biên kịch : Greg Glienna – Pete Schwaba. Hãng sản xuất : David Ladd Films – Metro-Goldwin-Mayer. Hãy thưởng thức bộ phim này. Mặc dù câu chuyện không quá độc đáo và các tình huống ở dạng có thể tiên đoán trước được. Đặc biệt là khi, cô gái Becky luôn xuất hiện bất ngờ khắp thành phố với châm ngôn sống là thay đổi và thử làm càng nhiều công việc càng tốt để có thật nhiều trải nghiệm và một cuộc đời đáng ghi nhớ. Thậm chí còn không may hơn cho Paul, bạn trai cũ của Becky là một kẻ nghiện bạo lực và luôn luôn dõi theo cô. Nếu bạn từng ngưỡng mộ Julia Stiles trong The Bourne Ultimatum, Selma Blair trong Hellboy, và Jason Lee trong Alvin & The Chipmunks thì hãy theo dõi họ trong bộ phim cười-thả-ga này. PHỤ ĐỀ VIỆT NGỮ THỰC HIỆN VÀ CHIA SẺ MIỄN PHÍ BỞI BEGOOD SUBBING TEAM. VUI LÒNG KHÔNG SAO CHÉP HOẶC SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI. Và đó, khi một chàng trai yêu, có thể lắm, là khi anh ấy chấp nhận mạo hiểm trong tình yêu – một việc mà anh ấy chưa bao giờ dám. Từ bỏ một lễ cưới trong mơ với một cô dâu trong mơ để rượt theo chiếc taxi của cô gái “làm việc gì cũng dở, chỉ có nụ cười là quyến rũ chết người mà thôi.”

Monster-in-law

5826

Charlotte Cantilini hay Charlie (Jennifer Lopez) là 1 nhân viên thời vụ tới từ Venice Beach, California, gặp gỡ bác sĩ phẫu thuật Kevin Fields (Michael Vartan). Ban đầu, cô ấy nghĩ anh ấy là gay, dựa trên lời nói dối của Fiona (bạn gái cũ của Kevin). Nhưng sau đó Kevin mời cô đi chơi, và Charlie tin rằng cuối cùng cô cũng đã tìm thấy đúng người. Mọi thứ bắt đầu không ổn khi Kevin giới thiệu cô với mẹ của anh ấy, Viola Fields (Jane Fonda). Viola là 1 cựu phát ngôn viên mới bị thay thế bởi 1 người trẻ hơn. Rất ghét Charlie ngay từ đầu, Viola thậm chí còn quẫn trí hơn nữa khi Kevin dự định cầu hôn Charlie. Cảm thấy mình sắp mất con trai như mất sự nghiệp của mình, bà đã lên kế hoạch hủy hoại mối quan hệ của Kevin và Charlie. Với sự trợ giúp của người trợ lý đáng tin Ruby (Wanda Sykes) (người thực ra đang bí mật chống lại bà ấy), Viola làm mọi thứ có thể để dẫn Charlie đi xa.

The Girl On The Train

4209

Được chuyển thể dựa trên cuốn tiểu thuyết bán chạy của Paula Hawkins, “The Girl on the Train” là chuyến hành trình khám phá đến tận cùng mê cung cảm xúc đầy phức tạp của phái đẹp. Thể loại: Tâm lý, giật gân Đạo diễn: Tate Taylor Diễn viên chính: Emily Blunt, Haley Bennett, Rebecca Ferguson, Luke Evans… “The Girl on the Train” ra mắt năm 2015 và được chuyển thể điện ảnh vào năm 2016 bởi đạo diễn Tate Taylor. Xét về tổng thể, cả tiểu thuyết lẫn bản phim của The Girl on the Train đều không được đánh giá cao như Gone Girl. Tuy nhiên “The Girl On The Train” vẫn là cuốn tiểu thuyết gây bão trên toàn thế giới với hơn 15 triệu bản được bán ra. Theo thống kê, tiểu thuyết của tác giả Paula Hawkins đã được dịch ra hơn 40 thứ tiếng, đứng đầu 21 tuần trên bảng xếp hạng những tác phẩm ăn khách nhất và được cựu tổng thống Mỹ Barack Obama xếp vào danh sách những quyển sách cần phải đọc… Đến giờ thì hiếm chủ đề nào là mới trong văn học, nhưng Hawkins vẫn viết ra một tác phẩm vô cùng độc đáo là The Girl On The Train. Trong Cô gái trên tàu, nhân vật chính là Rachel – một phụ nữ trẻ nghiện rượu nhưng lại có trí nhớ rất tốt. Cùng khai thác đề tài tâm lý nữ giới như Gone Girl (2014), nhưng The Girl on Train dường như chứa đựng bầu không khí căng thẳng và nặng nề hơn hẳn. Bởi phim không chỉ có một, mà sở hữu tới tận… ba cô nàng giống như Amy Dunne với những “ma trận” tâm lý cực kỳ phức tạp. Nhưng, The Girl on the Train tuyệt đối không phải một tác phẩm “ăn theo” rẻ tiền mà nó vẫn có những thứ rất đắt giá, từ tiểu thuyết cho đến điện ảnh. Cả hai tác phẩm đều xoay quanh nhân vật chính là những cô gái có vấn đề với hôn nhân, hay cụ thể là trở thành nạn nhân của ngoại tình. Bộ phim The girl on the train – Cô gái trên tàu kể về cuộc đời của Rachel (Emily Blunt thủ vai) sau cuộc hôn nhân tan vỡ. Cô thường ngồi thẫn thờ trên cùng một chuyến tàu cố định mỗi ngày. Ký ức về người phụ nữ trẻ mất tích cạnh nhà cũ của cô luôn lởn vởn trong tâm trí. Rachel không quên được cảnh máu me, chiếc áo và người đàn ông – những đầu mối gắn chặt đến cô gái mất tích. Buổi sáng, cô đi tàu từ căn nhà ở ngoại ô để đến trung tâm New York làm việc. Buổi chiều, cô lại bắt ngược chuyến tàu ấy trở về nhà. Rachel cực kì nguy hiểm, ít nhất là trong suy nghĩ. Trong câu chuyện, vấn đề tâm lý cũng như bản năng phụ nữ của nữ chính được xoáy sâu còn tất cả những nhân vật nam khác đều chỉ làm nền. Rachel để mắt tới những chuyển động, những người hàng xóm qua khung cửa toa tàu. Và cô đặc biệt hứng thú với cuộc sống của cặp vợ chồng trẻ Megan (Haley Bennett thủ vai) và Scott (Luke Evans đóng). Chuyến tàu đi qua khu nhà nơi cô từng sống, nơi giờ chồng cô – Tom – hiện đang ở cùng người vợ mới/nhân tình cũ của anh ta là Anna. Nhưng Rachel quá buồn nên không thể hướng mắt về số nhà 23, thay vào đó ngôi nhà số 15 thu hút mọi sự chú ý của cô. Đôi vợ chồng trẻ đẹp, luôn âu yếm và yêu thương nhau đã thu hút sự chú của Rachel. Cô quan sát họ, chú ý tới họ và dõi theo mọi hành động của họ hai lần mỗi ngày, khi đoàn tàu ra đi và trở về. Rachel tự đặt tên cho họ và mơ mộng về một cuộc sống hoàn hảo, hoàn toàn khác hẳn của bản thân. Cho đến một ngày, cô gái ngồi trên tàu bỗng phát hiện ra người vợ hạnh phúc kia đang ôm ấp người đàn ông khác trong căn nhà hạnh phúc ấy. Tiểu thuyết và phim xoay quanh 3 nữ chính là Rachel, Megan và Anna khi cuộc sống của họ có những liên quan rất oái oăm với nhau. Rachel xuất hiện lần đầu trong cảnh đi tàu về nhà sau một ngày làm việc căng thẳng, trong túi có đến 4 chai rượu trộn gin và tonic – bằng chứng cho thấy chứng nghiện rượu ngày càng nghiêm trọng kể từ khi chồng cô bỏ đi theo người khác. Chỉ cần tập trung vào Rachel là đã có thể tạo ra một ma trận vô cùng phức tạp của hôn nhân. Người xem lúc nào cũng có cảm giác mắc kẹt trong những manh mối và cảm giác căng thẳng, chẳng biết cô gái kia đang suy nghĩ gì. Suốt hơn một năm ròng rã, Rachel chọn ngồi ở toa thứ ba, bên ô cửa sổ hướng về phía dãy nhà khu ngoại ô bên đường ray. Đó là vị trí hoàn hảo nhất để quan sát những con người sinh sống trong khu vực dân cư bình yên trên con đường Beckett. Paula Hawkins thật sự tài năng khi đưa nhân vật của mình vào một hoàn cảnh khiến người xem kinh sợ nhưng vẫn có thể cảm thông. Những chi tiết, tuyến vai của các nhân vật nam, thậm chí là nam chính như Tom, Scott (The Girl on the Train) đều chỉ mang tính tham khảo và phát triển nội dung. Cho đến khi Rachel đọc báo được tin Megan – mất tích và chồng cô là Scott – là tình nghi số một, người hàng xóm cũ quyết định đến cảnh sát làm chứng cho tình yêu của anh dành cho vợ. Nhưng cảnh sát không tin Rachel với một lý lịch có vết nhơ như vậy, khi cô thường xuyên say xỉn, liên tục uống rượu, thậm chí thường xuyên đe dọa và khủng bố gia đình chồng cũ khi say. Tuy nhiên, không chỉ cảnh sát nghi ngờ Rachel, chính bản thân cô cũng không đặt nhiều niềm tin vào những gì mình thấy. Với diễn xuất tài tình của diễn viên Emily Blunt, người được nhận đề cử cho giải thưởng Diễn viên xuất sắc nhất tại Lễ trao giải điện ảnh Anh quốc lần thứ 70, khán giả sẽ nhiều phen thót tim theo diễn biến nhân vật Rachel khi cô dần khám phá sự thật ẩn giấu sau cuộc mất tích đầy bí ẩn của Megan. The Girl on the Train khai thác một lúc 3 nhân vật nữ. Rachel, Megan và Anna đều có những liên kết với nhau về mặt nào đó và cả ba đều là những phụ nữ có vấn đề trong hôn nhân. Rachel là làn gió mới trong văn học và phim tâm lý, là bước đi táo bạo của Paula Hawkins khi cô xây dựng hình tượng nữ chính tệ hại, yếu đuối, hằn học, không hấp dẫn cả về ngoại hình và tính cách. Rachel hoàn toàn trái ngược với Megan và Anna xinh đẹp và hấp dẫn, là tuýp nhân vật độc giả không mấy thiện cảm khi mới xem, nhưng càng về sau càng cảm thương hơn. Trên thực tế, Rachel là một người phụ nữ đã ly dị chồng, cô đơn và nghiện rượu. Để trốn tránh thực tại, cô luôn bấu víu vào những mường tượng về viễn cảnh đầm ấm của đôi vợ chồng kia như một điểm tựa cho bản thân. Anna là người đã “cướp” Tom từ Rachel khi cô trở thành một kẻ nghiện rượu, gây ra những khó khăn trong chuyện chăn gối. Megan là bảo mẫu ở nhà Anna khi Anna dọn về sống cùng Tom. Những giông tố cảm xúc trong lòng Rachel là trọng tâm và sức hút của toàn bộ tác phẩm. Ảo giác, hồi tưởng mơ hồ của cô là thứ vũ khí quan trọng, giúp “đánh lừa” khán giả trong việc giải mã vụ án then chốt. Megan cùng người chồng quyến rũ Scott cũng chính là sự khao khát của Rachel khi cô bị lọai khỏi cuộc sống hôn nhân, trở thành cô gái kì lạ trên chuyến tàu lửa mỗi ngày. Phiên bản phim có cách bắt đầu bám sát với tiểu thuyết khi chia làm từng đoạn suy nghĩ xoay quanh từng nhân vật. Do đó, sự phát triển tâm lý của Rachel được xây dựng hoàn chỉnh nhất, tạo ra được sự đồng cảm và thấu hiểu với khán giả. Nhưng không chỉ có Rachel, The Girl on the Train còn có sự xuất hiện của hai người phụ nữ khác. Tuy rằng cách kể này sẽ gây “khó khăn” ít nhiều với khán giả trong việc theo dõi nhưng nó tạo được không khí căng thẳng và hoang mang rất cần thiết cho The Girl on the Train. Khán giả sẽ từ từ nhận ra những cô gái này là ai cùng những vấn đề họ đang mắc phải. Đó là Megan (Haley Bennett), cô gái tóc vàng xinh đẹp với cuộc sống hạnh phúc bên cạnh người chồng điển trai Scott (Luke Evans). Song, ẩn sau vỏ bọc đẹp đẽ là người phụ nữ phải sống trong cảnh dằn vặt về quá khứ đau thương, cùng những mối quan hệ rối rắm. Đó là Anna (Rebecca Ferguson), một bà nội trợ lúc nào cũng ngập tràn sự mệt mỏi bởi phải chăm sóc cho cô con gái Evie. Đây là người phụ nữ lúc nào cũng ánh lên trong mắt sự nuối tiếc về cuộc sống xưa cũ. Điểm chung của Rachel, Megan và Anna chính là “sự đố kị” lẫn nhau. Anna và Rachel là tình địch và có sự “đổi ngôi” trong việc giành lấy trái tim Tom nên chắc chắn sự đố kị của họ chính là hạnh phúc của người còn lại. Cả Rachel hay Anna khi trở thành “người chiến thắng” thì đều phải sống trong tâm thế lo sợ sự tấn công của người kia. Rachel còn đố kị với Megan vì cô có cuộc hôn nhân trong mơ mà Rachel nhìn thấy mỗi ngày trên tàu. Ba người phụ nữ với ngoại hình, tính cách và hoàn cảnh khác nhau được khắc họa theo từng lớp lang trong phim. Nhịp tác phẩm được bóc tách, xen lẫn với những đoạn tự sự của ba cô gái. Khi thì chúng diễn ra ở dòng thời gian hiện tại, lúc lại là những đoạn hồi tưởng quá khứ nhằm giúp người xem định hình toàn bộ câu chuyện đang diễn ra. Cuối cùng, khi ba người phụ nữ được liên kết lại với nhau, bí mật lớn nhất trong phim trở nên dần sáng tỏ. Những tưởng là cô gái đơn giản nhất trong bộ ba vì có được cuộc sống trọn vẹn nhưng Megan là người gánh chịu những thương tổn nặng nề vì bi kịch trong quá khứ. Cô là một bảo mẫu nhưng lại không muốn trở thành một người mẹ, cô đố kị với Anna – một người mẹ hạnh phúc. Sự chồng chéo trong những suy nghĩ tự thân giữa Rachel, Megan và Anna chính là điều tạo ra sự hấp dẫn cho The Girl on the Train. Khán giả phài không ngừng chuyển “mũi dùi” vào từng nhân vật để tìm ra kẻ thủ ác trong vụ án sát nhân. Giống như nhiều bộ phim chuyển thể khác, biên kịch Erin Cressida Wilson đã lược bỏ một số chi tiết của nguyên tác: như mối quan hệ thân thiết giữa Rachel và cô bạn cùng nhà, hay sự mê mẩn trong mối quan hệ giữa Rachel và Scott cũng không được khắc họa sâu… Tuy nhiên, quyết định đó đã giúp khán giả bớt bị xao lãng và tập trung hơn vào câu chuyện vốn dĩ đã rất rối rắm. Nhưng, có lẽ điều khiến The Girl on the Train bị “mất điểm” so với Gone Girl chính là cả ba nhân vật đều không quá nguy hiểm như Amy. Họ không tự điều khiển cả cuộc đời mình mà bị thao túng bởi những suy nghĩ dành cho người khác cũng như hoàn cảnh bản thân. Lựa chọn cách kể giống hệt như trong sách cũng là lý do khiến The Girl on the Train chưa thực sự được lòng độc giả nguyên tác, bởi họ muốn theo dõi nội dung bộ phim theo cách mới mẻ, hấp dẫn hơn. Với những khán giả chưa từng đọc truyện, điều đó có lẽ không gây ra quá nhiều ảnh hưởng. Câu chuyện của The Girl on the Train ngỡ là phức tạp hơn Gone Girl nhưng dư âm để lại không nặng nề. Sự ngao ngán dành cho hôn nhân chỉ dừng lại ở mức “nhận ra” chứ không “ám ảnh”. The Girl on the Train sở hữu dàn diễn viên không chỉ đẹp về ngoại hình, mà còn mang khả năng diễn xuất rất tốt. Luke Evans và Haley Bennet khiến khán giả không thể rời mắt khỏi màn hình nhờ những cảnh quay nghệ thuật nóng bỏng. Minh tinh Thụy Điển Rebecca Ferguson có gương mặt gợi cảm, đủ sức hớp hồn mọi ánh nhìn. Nhưng nổi bật hơn cả chính là phần diễn xuất tinh tế, đầy cảm xúc của nữ diễn viên chính Emily Blunt. Tâm lý phức tạp, rối rắm của Rachel đã được bông hồng nước Anh truyền tải chân thực thông qua biểu cảm trên gương mặt. Nữ diễn viên khéo léo lột tả được tâm trạng tuyệt vọng, bất an và sợ hãi của nhân vật mà không tạo ra cảm giác “quá đà”. Tất thảy những bi kịch trong bộ phim đều xoay quanh việc “ngoại tình”. Người chồng hay người vợ trở thành nạn nhân đều không quan trọng, vấn đề ở đây chính là sự đổ vỡ trong cuộc sống đôi lứa. Khi Rachel trở thành một kẻ nghiện rượu mất kiểm soát, cô không thể trách bản thân đã để mất Tom. Vì có được người tình từ vị trí người thứ ba nên Anna không thể tin tưởng vào hạnh phúc mà cô đang có. Megan cũng vậy, khi cô không thể tha thứ cho bản thân mình ngày xưa thì cô sẽ chưa bao giờ bình yên ngay cả khi đã có một người yêu tuyệt vời. Megan là nạn nhân thương tâm nhất trong bộ phim cũng chính bởi vì cô là người bất ổn nhất. Từ chỗ hạnh phúc được bắt đầu trở lại, Megan lại dần đánh mất nó và biến mình thành trung tâm của những mầm tội. Tuy chưa thể tạo ra hiệu ứng như Gone Girl cách đây hơn hai năm, nhưng The Girl on the Train vẫn là tác phẩm tâm lý đáng xem về phái đẹp, và dành cho phái đẹp. Phim dẫn dắt khán giả đi vào góc khuất trong tâm lý của những người phụ nữ, những người vợ, người mẹ trong cuộc sống hiện đại. Paula Hawkins đã khơi gợi được những cảm giác đáng sợ mà không ai muốn đối mặt trong hôn nhân. Phụ nữ có thể điên rồ, khó hiểu, phức tạp và nguy hiểm. Nhưng sâu thẳm trong lòng, họ vẫn luôn là những kẻ yếu đuối đáng thương, đặc biệt khi dính đến tình yêu và đàn ông. Những cô gái “nguy hiểm”, gã đàn ông phụ bạc, cái chết kinh khủng thực chất cũng chỉ là chất liệu để nhà văn viết nên cái khó khăn trong việc làm vợ chồng. Và thật may mắn khi Tate Taylor có những thủ pháp chuyên nghiệp để khắc họa những thứ mang tính cảm giác đó lên màn ảnh rộng.

Southpaw

4209

“Tôi sẽ không bao giờ nói : Ồ, thật là bất khả thi. Vì tôi được sinh ra để trở nên phi thường…” Sau “Nightcrawler”, nam diễn viên Jake Gyllenhaal lại một lần nữa lột xác trong dự án điện ảnh mới mang tên “Southpaw”. Trong bộ phim này, anh đã tăng gần 7kg và tập luyện hết sức mình trong suốt nửa năm, để có cơ thể cuồn cuộn, đầy cơ bắp. Southpaw là một siêu bom tấn mùa hè 2015, thậm chí vài người nói Jake Gyllenhaal sắp sánh ngang với Leonardo Dicaprio về khả năng diễn xuất. Trong phim, Jake Gyllenhaal thủ vai Billy Hope – một nhà vô địch quyền anh. Boxing luôn là môn thể thao mà khi làm phim, nó luôn luôn mang tới những cảm xúc rất tốt cho người xem. Phim về boxing mang đến một cảm giác rõ ràng nhất về trái tim người đàn ông. Đây là bộ phim của đạo diễn da màu Antoine Fuqua, tác giả của khá nhiều bộ phim thành công, trong đó đáng phải kể nhất là Training Day đã mang lại cho diễn viên Denzel Washington giải Oscar diễn xuất lần thứ 2 trong sự nghiệp, một kỷ lục chắc còn lâu mới có người vượt qua. Ngoài Training Day kể về đề tài cảnh sát biến chất có kết cấu đa tầng, các bộ phim khác của Fuqua đều là những bộ phim hành động có kịch bản khá đơn giản theo lối kể tuyến tính, nhân vật người hùng không bao giờ chết và đều thành công ở phòng vé. Southpaw cũng nằm trong dòng của những bộ phim có kịch bản khá nghèo nàn này của Fuqua, nhưng nó hơn hẳn những bộ phim nói trên, nhờ diễn xuất tỏa sáng của Jake Gyllenhaal, một trong vài nam diễn viên giỏi nhất trong thế hệ của anh, người luôn khiến mỗi bộ phim anh tham gia đều khiến người ta chờ đợi và không ngừng ngạc nhiên về khả năng diễn xuất biến hóa. Đạo diễn Antoine Fuqua đã nói về quá trình tập luyện chuyên sâu của Jake Gyllenhaal: “Tôi đã yêu cầu anh ấy tập luyện 2 lần một ngày trên võ đài boxing, và anh ấy đã tập 6 tiếng một ngày, 7 ngày một tuần. Tôi đã bỏ ra khá nhiều thời gian tập luyện với anh ấy và huấn luyện viên mỗi ngày. Tôi đưa anh ấy đến gần như mọi trận đấu. Chúng tôi muốn biến Jake Gyllenhaal thành một con quái vật theo đúng nghĩa đen”. Thể loại : Hành động, tâm lý, thể thao. Thời lượng : 124 phút. Công chiếu : 24/07/2015. Đạo diễn : Antoine Fuqua. Biên kịch : Kurt Sutter. Hãng sản xuất : Wanda Pictures – The Western Company. Đây là câu chuyện về một gã vô địch hạng trung thế giới chuộc lại lỗi lầm của mình, kiềm toả cơn giận dữ để được trở về bên con gái, cứu rỗi lại cuộc đời mình, sau khi người vợ bị giết hại. Trong một lần phát biểu trước công chúng, Hope bị Miguel Escobar đả kích, từ đó gây ra mối hiềm khích có sẵn giữa hai người. Sau đó, trong một đêm tiệc từ thiện, họ gặp lại nhau và xảy ra xung đột, mặc dù vợ anh đã hết lòng khuyên can nhưng Hope vẫn không chịu nổi sự kích động. Anh lao vào ẩu đả với Escobar, trong lúc hỗn loạn, vợ Hope bị bắn và ra đi đầy tiếc nuổi trên tay anh. Trước đó, anh dường như có tất cả những gì mà người khác ao ước, anh có vợ đẹp, con ngoan, sự nghiệp trên đỉnh cao với đầy đủ tài chính. Thế nhưng mọi thứ hoàn toàn sụp đổ khi vợ của anh qua đời. Anh bắt đầu chìm trong thuốc và rượu, tài sản tiêu tan, đến cô con gái cũng bị trung tâm chăm sóc trẻ em mang đi vì anh không có khả năng chăm sóc. Ông bầu và huấn luyện viên của anh thì bỏ anh để theo Escobar. Quá tuyệt vọng, anh tìm đến một nhà huấn luyện mới qua sự giúp đỡ của người bạn cũ. Hope dần lấy lại phong độ, anh tập luyện và quay trở lại trận đấu cuối cùng với kẻ đã gây ra cái chết của vợ mình – Miguel Escobar. Cuối phim là một đoạn kết có hậu khi anh lấy lại được mọi danh vọng và đoàn tụ với con gái, thế nhưng anh cũng dạy cho chúng ta một bài học đắt giá rằng: “Nếu bạn không giữ nổi kiềm chế với một kẻ không đáng để bạn nổi giận, cái giá mà bạn phải trả có thể rất đắt.” PHỤ ĐỀ VIỆT NGỮ VÀ CHIA SẺ MIỄN PHÍ BỞI BEGOOD SUBBING TEAM. NGHIÊM CẤM MỌI HÌNH THỨC SAO CHÉP VÀ SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI. Về tổng thể Southpaw không phải là một phim tốt, khi câu chuyện đi quá nhiều vào sự chia sẻ, và tìm kiếm đồng cảm của khán giả cho nhân vật, mà thiếu đi điều khiến cho nhân vật phải chuộc lại lỗi lầm. Nhưng nó tốt vì có Jake Gyllenhaal, một diễn viên quá tốt giúp cho bộ phim lôi cuốn, và đi đúng quỹ đạo của mình, khiến người ta lờ đi những lỗi về phát triển kịch bản, và sự hờ hững trong xây dựng một nhân vật “lên voi xuống chó” như Billy Hope. Anh cũng là một trong ít ỏi diễn viên ngày hôm nay xứng đáng với lối diễn xuất “method acting” (diễn xuất theo kiểu nhập vai hoàn toàn vào nhân vật, như thể mình là nhân vật đó). Không chỉ là những ấn tượng về thay đổi ngoại hình, khả năng diễn xuất nội tâm của anh, đặc biệt trong những cảnh Billy gục ngã hay cuồng nộ đã mang lại cho bộ phim chiều sâu của một kịch bản khá nông cạn và hời hợt. Southpaw mang lại tính giải trí cao, đặc biệt Fuqua rất để ý câu kéo cảm xúc của khán giả nên có nhiều đoạn khá xúc động. Nói chung, dù cho câu chuyện về chủ đề này đã được khai thác khá nhiều và ở nhiều khía cạnh, nhưng nhìn những người đàn ông chiến đấu với máu đầy trên mặt với đối thủ, và chiến đấu một cách trật vật với cuộc sống để lấy lại cuộc đời thật không gì tạo nhiều cảm xúc bằng. Southpaw có kinh phí khoảng 30 triệu USD nhưng thu về hơn 70 triệu USD. Kết quả này hoàn toàn nhờ vào sức hút của Jake Gyllenhaal.

Today’s Special

4209

Trong bộ phim hài hấp dẫn này, đầu bếp Samir trẻ tuổi ở Manhattan khám phá lại di sản và niềm đam mê cuộc sống của mình thông qua các món ăn hấp dẫn của Ấn Độ. Aasif Mandvi của chương trình Daily Show xuất hiện trong bộ phim hài và thú vị này trong vai Samir. Mẹ của anh muốn tìm cho anh một người vợ Ấn Độ-Hồi giáo tốt; bố thì luôn so sánh anh với người anh trai tài giỏi đã qua đời. Samir là một bếp phó trong một nhà hàng nổi tiếng ở Manhattan. Anh ấy đã bỏ việc khi chức vụ bếp trưởng mà anh ấy mong chờ sau bao năm cống hiến được trao cho một người trẻ tuổi hơn – chủ nhà hàng của anh ấy nói rằng việc nấu ăn mà anh ấy thực hiện luôn thiếu đi một phần tâm hồn. Anh ấy quyết định thử sức với một công việc thực tập không được trả lương tại Paris, nhưng việc đó khiến cho bố anh ấy tức giận và lên cơn đau tim khiến cho anh phải trì hoãn công chuyện lại một vài tuần. Samir phải bắt tay vào điều hành nhà hàng Ấn Độ đang thất bát của gia đình tại Queens. Anh ấy không thể nấu được đồ ăn Ấn Độ, và mọi thứ trở nên tồi tệ sau khi bếp trưởng của gia đình bỏ việc vì cãi nhau với Samir về vấn đề vệ sinh. Samir tìm tới gặp Akbar, một tài xế taxi anh tình cờ gặp trên đường về nhà, người khẳng định rằng từng nấu ăn cho Hoàng gia Anh ở Bombay. Akbar có phương pháp nấu nướng bằng tâm trí, trái tim, và tấm lòng – và cũng thêm vào nhiều triết lí. Với sự giúp đỡ của Carrie, người Samir gặp tại nhà hàng ở Manhattan, Samir bắt đầu tận hưởng công việc. Nhưng bố của anh ấy sẽ chấp thuận việc này chứ? Còn nếu không, vậy thì chuyện gì xảy ra? Có lẽ điều hay nhất trong bộ phim này là các nhân vật phụ vui nhộn, bao gồm cả cha mẹ của Samir, nhân viên nhà hàng gia đình và một lái xe taxi đầy tự hào (Naseeruddin Shah, người xuất sắc nhất). Câu chuyện xoay sở được để khiến cho khán giả cảm động và cảm thấy hay mà không bị quá ỉu xìu hoặc có thể đoán trước được. Bộ phim có thể hoàn thành mà không cần có mối tình lãng mạn giữa Samir và Carrie, một đầu bếp tại nơi làm việc cũ của Samir, nhưng nhờ có mối quan hệ này mà bộ phim trở nên hài hước và quyến rũ hơn. Bộ phim mở ra từ một xung đột gia đình (nguyện vọng của người mẹ đối với con trai, nỗi đau của cha về sự mất mát). Đây là một bộ phim về các mối quan hệ: giữa một đầu bếp đầy tham vọng với thức ăn và công chúng, giữa một người mẹ và một người cha, và giữa nhân vật chính với đồng nghiệp của anh ấy. Không cần có những câu thoại hay tình huống diễn thuyết hoàn hảo đầy khôn ngoan, bộ phim chỉ tập trung khai thác đời sống bình dị tại một khu dân cư bậc trung, hành trình đi tìm lại bản năng của một đầu bếp, và cái cách mà đồ ăn được nấu với tất cả trái tim có thể thay đổi cuộc đời một con người. Today’s Special là một bộ phim có sự pha trộn giữa các yếu tố hài hước, gia đình, lãng mạn và nhân văn. Naseeruddin Shah trong vai tài xế Akbar chính là điểm nhấn tuyệt vời nhất trong dàn diễn viên. Người xem có thể nắm bắt câu chuyện một cách thoải mái vì Today’s Special hoàn toàn tập trung vào các nhân vật và câu chuyện liền mạch đơn giản nhưng ý nghĩa của họ. Thật sự dễ chịu khi được xem một bộ phim nói tới người theo đạo Hồi nhưng không phải là những kẻ khủng bố, không có bắn giết hay chết chóc, bom nổ hay máu chảy. Chỉ có tiếng cười, niềm vui và nụ cười đọng lại với niềm tán thưởng của khán giả. Một bộ phim tuyệt vời dành cho cuối tuần và chắc hẳn cũng có thể truyền cảm hứng cho các khán giả xem phim để có một cuộc sống thú vị hơn. Âm nhạc trong phim cũng được sử dụng hài hòa và tuyệt vời. Bộ phim nhạy cảm, ấm áp này cũng là bộ phim điện ảnh đầu tiên của Aasif Mandvi, một thành tựu dành cho anh ấy và niềm vui dành cho khán giả có may mắn được xem và biết tới bộ phim này.

Something Borrowed

6761

Thể loại : Hài, lãng mạn. Hãng phim : Warner Bros. Ngày ra rạp : 06 – 05 – 2011. Đạo diễn : Luke Greenfield. Biên kịch : Jennie Snyder Urman. Nội dung Phim kể về cuộc sống của Rachel White (Ginnifer Goodwin) – một nữ luật sư trẻ tuổi tài năng và hết sức hiền lành. Hiền lành đến mức thành ra… cam chịu. Rachel không bao giờ nghĩ đến việc cướp hạnh phúc của người khác, đặc biệt là của cô bạn thân từ nhỏ Darcy Rhone (Kate Hudson). Đức tính tốt đẹp này vô tình khiến cô quên luôn việc dành lấy hạnh phúc cho bản thân. 6 năm trước, Rachel học chung với Dex và 2 người có tình cảm với nhau nhưng không ai nói ra. 1 đêm Dex ngỏ lời mời Rachel đi ăn tối nhưng cô hẹn cô bạn Darcy hãnh tiến, vô tâm của mình tới cùng và để cho Darcy tán tỉnh Dex. 6 năm sau, lúc này Dex đã là hôn phu của Darcy. Những tưởng mọi việc sẽ kết thúc tại đây khi Dex và Darcy sắp cưới nhau, còn tình cảm của Rachel sẽ giấu kín suốt đời, thì hàng loạt sự kiện xảy tới khiến câu chuyện đảo lộn hoàn toàn. Số phận đẩy đưa khiến Rachel và Dex cùng quá chén trong bữa tiệc sinh nhật thứ 30 của cô, Rachel bắt xe đi cùng với Dex, và khôi hài tiết lộ rằng cô đã phải lòng anh từ khi còn học trường luật. Hậu quả là sáng hôm sau, cả hai thức giấc trên giường cùng nhau khi Darcy đang gọi điện thoại tới nhà Rachel. Dex ra về và họ không có thời gian để nói với nhau về chuyện đã xảy ra giữa họ. Rachel ban đầu tin rằng đó chỉ là tình 1 đêm, nhưng nó chỉ là khởi đầu cho 1 mối quan hệ khi Dex chân thành nói yêu cô. Sau đó là cả 1 khỏang thời gian họ loanh quanh che giấu hoàn cảnh của mình với Darcy và những người khác.

Jackie

4209

Ngày 22/1/1963, vị tổng thống thứ 35 của nước Mỹ là John F. Kennedy bị một viên đạn bắn tỉa hạ gục khi đang ngồi trên chiếc xe mui trần và vẫy chào người dân Texas tại quảng trường Dealey, thành phố Dallas. Nhân vật ngồi cạnh ông trong thời khắc định mệnh ấy, chứng kiến những giây phút cuối cùng của vị tổng thống trẻ tuổi của xứ sở cờ hoa, chính là Đệ nhất Phu nhân Jacqueline “Jackie” Kennedy. Ra mắt vào thời điểm cuối năm, do đó, không phải là võ đoán khi các nhà phê bình ca ngợi đây là một trong những phim xuất sắc nhất năm 2016. Năm 1963 quả là quãng thời gian đen tối trong cuộc đời Jackie Kennedy. Chỉ ba tháng trước vụ ám sát tổng thống Kennedy, bà đã phải đau đớn chia lìa đứa con trai út Patrick chết yểu khi chỉ mới hai ngày tuổi. Ngay lúc váy áo còn đang vương máu của người chồng quá cố, Jackie Kennedy đã phải nén nỗi đau, đương đầu với hàng loạt thử thách khó khăn: từ quyết định các chi tiết cho lễ quốc tang của chồng, tới chăm lo cho hai đứa con nhỏ, cũng như gói ghém đồ đạc của gia đình ở Nhà Trắng để trao trả cho chủ nhân mới là vợ chồng Tổng thống Lyndon B. Johnson. Đây là bộ phim được quay tại Mỹ đầu tiên của đạo diễn người Chile, Pablo Larrain. Lấy trung tâm là cuộc phỏng vấn giữa Jackie Kennedy (Natalie Portman) với nhà báo nổi tiếng của tờ Life – Theodore H. White (Billy Crudup), Jackie mang tới cho khán giả hai hình ảnh rất đỗi khác biệt của Jackie Kennedy. Đó là một Đệ nhất Phu nhân quyền quý, e dè trước ánh mắt công chúng và trên sóng truyền hình, nhưng đồng thời còn là người phụ nữ mạnh mẽ, phải hy sinh tham vọng, hạnh phúc cá nhân cho thành công của người chồng John F. Kennedy (Caspar Phillipson) và sự bình an của hai đứa con nhỏ Caroline (Sunnie Pelant), John Jr. (Aiden Weinberg). Tờ Variety viết rằng: “Vai diễn của Natalie được cô chăm chút từng chi tiết, hoàn chỉnh một cách đáng tin” trong khi The Hollywood Reporter cho hay kỹ năng thoại tuyệt vời giúp Natalie chinh phục người xem. Bên cạnh nhân vật chính Jackie Kennedy, Jackie cũng giới thiệu đến khán giả hình ảnh của hàng loạt gương mặt nổi bật trong lịch sử hiện đại nước Mỹ và phản ứng của họ trước cái chết đột ngột của John F. Kennedy. Họ gồm em trai của vị tổng thống quá cố – Tổng chưởng lý Robert F. Kennedy (Peter Sarsgaard), thư ký Nhà Trắng và là người bạn thân thiết của Đệ nhất Phu nhân – Nancy Tuckerman (Greta Gerwig), và người kế nhiệm John F. Kennedy – Tổng thống Lyndon B. Johnson (John Carroll Lynch). Dù có bị “hạ” xuống thành bà nội trợ, người chỉ đóng góp cho văn hóa Mỹ qua trang phục, Jackie Kennedy thật sự vẫn là nhân vật bí ẩn và sáng chói bậc nhất thế kỷ 20. Với đa số người Mỹ hoặc những ai am tường lịch sử nước Mỹ hiện đại, Jackie Kennedy hẳn luôn được nhớ tới với tư cách là Đệ nhất Phu nhân đầu tiên thổi luồng gió hiện đại vào cuộc sống của Nhà Trắng. Vẻ đẹp thanh lịch của người phụ nữ 31 tuổi sinh ra trong một gia đình thượng lưu New York, cùng sự năng động trong các hoạt động văn hóa xã hội, đã giúp Jackie Kennedy được công chúng nhớ tới với vai trò là “bà chủ Nhà Trắng”, chứ không đơn thuần chỉ là “bà Kennedy”. Việc bộ phim này được đưa lên màn ảnh trong LHP Venice năm 2016 là cả một nỗ lực vì trước đó kịch bản bộ phim Jackie từng bị liệt vào danh sách đen năm 2010. Hình ảnh đáng nhớ của Jackie Kennedy, cùng cử chỉ và ngữ điệu rất đặc biệt của bà, được truyền tải đầy đủ trong Jackie, nhưng là để làm nền cho một Jackie Kennedy khác mà công chúng ít khi biết tới. Đó là người phụ nữ đau khổ đến cùng cực vì phải chứng kiến chồng bỏ mạng ngay trong vòng tay mình. Đạo diễn gốc Chile Pablo Larraín được nhiều nhà phê bình điện ảnh ở LHP Venice ủng hộ với lối dẫn dắt câu chuyện nhiều tầng ý nghĩa, tạo cho Jackie một cái nhìn khác đi so với nhiều phim tiểu sử thất bại gần đây. Những gì được ghi chép lại trong sử sách chưa chắc đã phản ánh đúng sự thật. Chính Jackie Kennedy đã nhận xét như vậy trong cuộc phỏng vấn thân mật nhưng đầy căng thẳng với Theodore H. White. Năm 1995, khi công bố cuốn sách những điều chưa biết về Jackie Kennedy, mà nhà phê bình văn hóa Wayne Koestenbaum nhận định rằng: Khả năng “biến hóa” đã giúp bà dễ dàng viết nên câu chuyện lịch sử của chính mình. Liệu hình ảnh nào của bà trong bộ phim mới là chân dung thực sự của Đệ nhất Phu nhân thứ 35, mới phản ánh đúng tâm tư, suy nghĩ của nhân vật? Có lẽ chỉ mình Jackie Kennedy và người nhận lời xưng tội của bà – Đức cha Richard McSorley (John Hurt), mới có thể đưa ra câu trả lời chính xác. Đạo diễn Larrain vô cùng yêu thích nhân vật của ông, ông đã tìm hiểu rất kỹ về phu nhân tổng thống và ông cho rằng “Jackie là người bí ẩn nhất trong những người bí ẩn”. Không khí căng thẳng đậm chất tư liệu của Jackie, cùng sự chăm chút dành cho từng cử chỉ, lời nói của nhân vật đến từ đạo diễn Pablo Larraín, đã giúp khán giả hiểu thêm rất nhiều về bà trong những ngày tháng bi kịch ấy. Là tác phẩm tiểu sử xoay quanh một nhân vật có nội tâm và cuộc đời hết sức phức tạp, Jackie thành hay bại dựa phần lớn vào tài năng của diễn viên đảm nhận vai Jackie Kennedy. Nếu Jackie là phim nói tiếng Anh đầu tay của Pablo sau một loạt tác phẩm nói tiếng mẹ đẻ gây được tiếng vang trước đó, thì đây lại là phim đầu tiên đưa Natalie Portman trở lại vị thế ngôi sao hạng A sau một loạt tác phẩm có số phận bất thường. Hãng Fox Searchlight đã chủ động mời Natalie Portman từ trước khi họ chọn Pablo Larraín cho ghế đạo diễn của dự án. Bên cạnh tài năng không thể chối cãi, có lẽ Portman được tin tưởng bởi cô từng thắng giải Oscar nhờ một vai diễn có hai mặt tính cách và hình ảnh đối lập trong Black Swan (2010) của Darren Aronofsky – người đầu tiên được mời làm đạo diễn cho Jackie. Bộ phim bắt đầu rậm rịch quay vào cuối năm 2015 nhưng Natalie Portman đã được chọn vào vai diễn khó nhằn này từ năm 2012. Không phụ lòng tin tưởng của đội ngũ sản xuất, Natalie Portman thêm một lần nữa chứng tỏ khả năng diễn xuất tâm lý bậc thầy trong một vai diễn chứa đựng rất nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau như Jackie Kennedy. Trong một tác phẩm căng thẳng không có lấy một chút trầm lắng nào, Natalie Portman khiến người xem phải nín thở theo từng trạng thái tình cảm của vị Đệ nhất Phu nhân, từ lúc bà phải làm chứng nhân cho viên đạn oan nghiệt xuyên thẳng qua đầu John F. Kennedy, cho tới những giờ phút đơn độc đến cùng cực trong Nhà Trắng trước tang lễ của chồng. Ngoài tạo hình rất giống Đệ nhất phu nhân Jacqueline Kennedy, Natalie còn là diễn viên phát huy kỹ thuật nhập vai rất giỏi, giúp cô lọt vào danh sách ứng viên Oscar bên cạnh một số tên tuổi như Viola Davis, Amy Adams, Isabelle Huppert… Đây có thể coi là màn trở lại xứng đáng của mỹ nhân người Israel sau gần 5 năm chủ yếu dành thời gian cho gia đình, và đề cử Nữ diễn viên chính xuất sắc tại Oscar 2017 dành cho cá nhân cô cũng không phải là điều gì quá ngạc nhiên. Là tác phẩm mang đậm tính cách Mỹ, xoay quanh một nhân vật quan trọng của lịch sử hiện đại xứ sở cờ hoa, nhưng Jackie và thành công của bộ phim cho thấy điện ảnh thực sự là thứ ngôn ngữ không có biên giới. Đoàn làm phim mang đậm tính “quốc tế” với một đạo diễn người Chile, nữ diễn viên chính người Israel, quay phim người Pháp (Stéphane Fontaine) và soạn nhạc người Anh (Mica Levi). Họ đã phối hợp ăn ý với nhau để tạo ra một tác phẩm đáng nhớ. Tính đa dạng của ê-kíp Jackie đồng thời phản chiếu sự đa diện trong suy nghĩ và tính cách của Jackie Kennedy, điều mà những tác phẩm chính sử về Nhà Trắng hoặc những bộ phim truyền hình quảng bá cho hình ảnh của Jackie Kennedy trước đây khó lòng có thể truyền tải. Đã 54 năm kể từ ngày Jackie Kennedy giã biệt những căn phòng tráng lệ của Nhà Trắng do chính bà góp công tu tạo, và đã 23 năm trôi qua kể từ ngày cựu Đệ nhất Phu nhân trút hơi thở cuối cùng tại quê nhà New York. Nhưng với những tác phẩm xuất sắc như Jackie, công chúng sẽ còn nhớ tới bà, không chỉ như chứng nhân của lịch sử nước Mỹ, mà còn như một người phụ nữ đã góp phần làm nên lịch sử ấy. Tại Oscar 2017, Jackie nhận ba đề cử cho Nữ diễn viên chính (Natalie Portman), Thiết kế phục trang (Madeline Fontaine) và Nhạc nền trong phim xuất sắc (Mica Levi).

The Conjuring – Ám Ảnh Kinh Hoàng

4209

The Conjuring là một bộ phim kinh dị siêu nhiên của điện ảnh Hoa Kỳ công chiếu vào năm 2013, đạo diễn bởi James Wan. Hai diễn viên Vera Farmiga và Patrick Wilson vào vai Ed và Lorraine Warren, họ là những nhà điều tra các hiện tượng siêu nhiên xảy ra trên nước Mỹ. Trong phim hai vợ chồng Warren là những người điều tra các hiện tượng siêu nhiên, họ đến để hỗ trợ gia đình Perron (Ron Livingston và Lili Taylor) đang trải qua các sự kiện ngày càng đáng lo ngại trong trang trại của họ ở Harrisville, Rhode Island vào năm 1971. The Conjuring được phát hành tại Mỹ và Canada vào ngày 19 tháng 7 năm 2013, Vương quốc Anh và Ấn Độ vào ngày 2 tháng 8 năm 2013, và ở Việt Nam vào ngày 6 tháng 9 năm 2013. Bộ phim nhận được đánh giá tích cực từ các nhà phê bình phim và khán giả. Bộ phim cũng thành công tại phòng vé khi thu hơn 318 triệu đô la Mỹ trên toàn thế giới, trong khi kinh phí chỉ là 20 triệu đô la. Dù số lượng phim đã làm mới chỉ đếm được trên đầu ngón tay nhưng đạo diễn James Wan đã được xem là một trong những nhà làm phim tiêu biểu của dòng phim kinh dị ở Hollywood. Phim mở đầu vào năm 1968, hai cô gái và một chàng trai trẻ thuật lại câu chuyện của họ cho Ed và Lorraine Warren nghe về con búp bê tên Annabelle mà họ tin rằng đã bị ma ám. Sự việc sau đó cho thấy có vẻ Ed và Lorraine đã xử lý xong vụ Annabelle và niêm phong con búp bê này trong căn phòng chứa những đồ vật ma ám mà họ đã xử lý trước đây. Năm 1971, Roger và Carolyn Perron chuyển đến sống trong một trang trại ở Harrisville, Rhode Island với năm cô con gái của họ là Andrea, Nancy, Christine, Cindy và April. Trong ngày đầu tiên mọi chuyện diễn ra suôn sẻ mặc dù chú chó Sadie của họ không chịu vào nhà. Cô bé út April nhặt được một chiếc hộp âm nhạc cũ. Tối hôm đó, trong khi chơi trò “Trốn và Vỗ tay”, các cô gái đã phát hiện ra một tầng hầm bí mật trong ngôi nhà. Sáng hôm sau, Carolyn thức dậy với một vết bầm tím bí ẩn trên người còn April tìm thấy Sadie nằm chết bên ngoài nhà. PHỤ ĐỀ VIỆT NGỮ BỞI BEGOOD SUBBING TEAM. Trong vài ngày tới, các sự kiện huyền bí liên tiếp xảy ra. Chị cả Andrea cảm nhận được mùi gì đó như mùi xác chết phân hủy, Cindy liên tục bị mộng du và đập đầu vào tủ quần áo trong phòng Andrea, Christine bị kéo chân vào lúc nửa đêm, sau đó cô bé nhìn thấy điều gì đó rất khủng khiếp. Bản thân Carolyn cũng bắt đầu cảm nhận được những điều bất thường khi các vết bầm xuất hiện ngày càng nhiều, mọi đồng hồ trong nhà đều dừng lại ở 3:07, hay tiếng vỗ tay bí ẩn trong tủ quần áo ở phòng Andrea khi cô chơi trò “Trốn và Vỗ tay” với April. Các sự việc lên đến đỉnh điểm khi một đêm Roger đi công tác ở Florida. Carolyn quyết định tìm đến Ed và Lorraine Warren để nhờ họ giúp đỡ. Vợ chồng Warren tiến hành một cuộc điều tra và kết luận rằng ngôi nhà đã bị ma ám. Không dùng những hình ảnh quá ghê tởm, đầy máu me hay các pha hù dọa kinh hoàng khiến khán giả giật bắn người, thay vào đó, James Wan luôn có cách điều khiển nhịp phim rất thông minh, chậm rãi, từ tốn nhưng lại khiến người xem lạnh sống lưng, giật thót tim ngay cả khi có thể họ đã đoán trước được sự xuất hiện của vật thể ma ở một phân đoạn nào đó. Ngay trong phần mở đầu của bộ phim, The Conjuring đã thông báo rành mạch cho người xem biết rằng tác phẩm điện ảnh này được dựa trên một câu chuyện có thật. Xu hướng làm phim kinh dị dựa trên chuyện có thật không còn là điều mới mẻ ở Hollywood. Điểm đặc biệt của bộ phim này là nó được kể dưới góc nhìn của hai nhà “săn ma” Ed và Lorraine Warren. Họ là một cặp vợ chồng ngoại cảm chuyên đi khắp nơi để tìm hiểu về ma quỷ, diễn thuyết và giải thích các hiện tượng siêu nhiên. Đặc biệt, Lorraine Warren là một người có khả năng thấu thị, có thể nhìn thấy được nhiều điều mà người bình thường không thể thấy. Trong suốt quá trình hoạt động của mình, Ed và Lorraine Warren đã đi giải quyết hàng nghìn tình huống ma quỷ, nhưng có một trường hợp kinh khủng nhất mà họ vẫn luôn giấu kín, đến nay mới tiết lộ cho nhiều người biết, đó chính là trường hợp của gia đình nhà Perron. Điểm đặc biệt ở cách làm phim của James Wan là anh có thể xây dựng tính cách và hoàn cảnh cho các nhân vật một cách rất sâu sát. James Wan cũng có cách dọa ma khán giả rất thông minh. Dĩ nhiên đã là phim ma thì sẽ không thể thiếu nhưng phân đoạn quen thuộc như cánh cửa tự đóng mở, đèn chớp tắt, những tiếng đàn hay tiếng kẽo kẹt ma quái. Những tình tiết đó, dù quen thuộc và nhàm chán nhưng James Wan vẫn có thể làm cho chúng trở nên mới mẻ và có sức sống đến kỳ lạ. Về kỹ thuật, có thể nói The Conjuring có được thành công lớn cũng nhờ một phần vào góc máy và hiệu ứng âm thanh. Cách quay của The Conjuring không có nhiều đột phá, nhưng nó đúng chuẩn và là một sự mẫu mực trong dòng phim kinh dị. Những góc máy từ trên cao, qua vai nhân vật hay những góc máy thấp từ dưới lên, tất cả đều chuyển tải được hết ý đồ kinh dị của đạo diễn khi muốn diễn tả sự huyền bí, ma quái của bộ phim. Nhạc phim không có gì đặc biệt hay ấn tượng, nhưng bù lại, phần âm thanh được làm rất tốt, không bị chói tai hay thì thầm quá mức, đủ khiến người xem có cảm giác “rợn da gà”. Xét về dàn diễn viên, có lẽ khâu casting của The Conjuring là một trong những khâu “khó nhằn” và đau đầu nhất của ê kíp sản xuất. Bởi lẽ hầu hết các diễn viên trong phim, bao gồm 7 người của gia đình nhà Perron và 3 người trong gia đình nhà Warren, tất cả đều đòi hỏi phải có diễn xuất nội tâm ấn tượng, vừa lột tả được vẻ hoang mang, lo sợ, vừa lột tả được cái thần của mỗi người trong mọi hoàn cảnh. Dù điệp vụ gần như bất khả thi như vậy nhưng rốt cuộc đạo diễn James Wan cũng có được một dàn diễn viên khá chắc tay. Mỗi người đều làm rất tốt nhiệm vụ của mình. Patrick Wilson và Vera Farmiga là hai diễn viên thủ vai vợ chồng nhà ngoại cảm Ed và Lorraine Warren. Cả hai đều là những gương mặt gạo cội trong làng điện ảnh Hollywood với gia tài hơn 30 bộ phim cả điện ảnh lẫn truyền hình lớn nhỏ. Patrick và Vera đã diễn xuất với nhau ăn ý như một cặp vợ chồng thật. Đặc biệt là Vera, cô vào vai một ngoại cảm có năng lực thấu thị với diễn xuất nội tâm ấn tượng, vừa mong manh yếu đuối “rất đàn bà” mà cũng lại vừa rất mạnh mẽ, kiên cường, yêu thương con hết mực. Sở dĩ đạt được những điểm cộng đáng giá như thế này là vì Patrick và Vera đã đích thân đến sống tại nhà của vợ chồng Warren thật trong suốt một thời gian dài trước khi phim bấm máy để tìm hiểu và trải nghiệm những cảm xúc thật nhất của hai người khi tiếp xúc với thế giới tâm linh đầy huyền bí. Dù chưa phải là một bộ phim điểm 10 nhưng The Conjuring vẫn xứng đáng là một tác phẩm điện ảnh kinh dị ấn tượng đúng nghĩa. Điều đọng lại sau cùng trong đầu khán giả rốt cuộc vẫn có rất nhiều thứ: diễn xuất ấn tượng, âm thanh hoàn hảo, góc quay chỉn chu và đặc biệt là phong cách hù dọa rất thông minh của đạo diễn James Wan.

Denial

6632

Bộ phim tái hiện một sự kiện có thật cách nay gần 20 năm, và kịch bản dựa trên quyển ‘History on Trial: My Day in Court with a Holocaust Denier’ của Deborah E. Lipstadt. Đây là câu chuyện diễn ra khi David Irving (một tác giả người Anh, chuyên viết về Thế Chiến II) kiện Deborah Lipstadt (một nhà sử học người Mỹ chuyên nghiên cứu về lịch sử Do Thái và Nạn diệt chủng người Do Thái) lên tòa án Anh Quốc vì tội phỉ báng khi Lipstadt gọi ông ta là “kẻ chối bỏ Nạn diệt chủng” trong một cuốn sách trước đó. Điều thú vị ở chỗ tại sao lại là tòa án Anh Quốc, tất nhiên không đơn giản là vì Irving là người Anh còn Lipstadt là người Mỹ, mà là ở sự khác biệt trong cách vận hành của hệ thống luật pháp giữa Anh và Mỹ, và đó chính là điểm sáng của bộ phim, những đoạn giải thích về trình tự pháp luật rất là hay. Đây là một bộ phim về một vụ kiện ở tòa án, nơi sẽ có bên bị cáo, bên nguyên cáo và bên đại diện cho luật pháp đưa ra phán quyết (mà ở đây là thẩm phán), nơi cho chúng ta thấy một khi vấn đề được đem ra phân xử tại tòa, vấn đề quan trọng không còn ở chỗ sự thật của câu chuyện, mà là cách người ta có thể chứng minh cái gì là “sự thật”, và dĩ nhiên sau đó bên thắng chính là người nắm trong tay sự thật. Không ai có thể phủ nhận rằng diễn viên gạo cội Tom Wilkinson trong vai luật sư biện hộ Richard Rampton chính là ngôi sao sáng nhất phim, một nhân vật có sức sống, có cá tính rõ ràng, có cao trào có thâm trầm và dưới sự hóa thân của Wilkinson đã tạo nên một nhân vật khiến người khác thấy kính trọng, dù không rõ ngoài đời Richard Rampton có giống như vậy thật hay không. Nhân vật gây ấn tượng thứ hai đó là Anthony Julius do Andrew Scott thủ diễn, một luật sư nổi tiếng ở London khi đã từng làm luật sư đại diện cho công nương Diana khi ly dị thái tử Charles , và giờ là luật sư chiến lược trong vụ kiện của Lipstadt. Tài năng là điều không thể phủ nhận ở Anthony, sự sắc sảo, thực tế và quyết đoán đều có thể dễ dàng cảm nhận được ở con người này, đồng thời là sự lạnh lùng, vẻ cao ngạo giấu trong vỏ bọc khiêm tốn nhã nhặn, sự áp đặt lên những người yếu thế hơn và cả sự cáo già trong những bước đi là nửa còn lại của vị luật sư nổi tiếng ấy. Cái cách Anthony chọn chiến lược, thuyết phục Lipstadt không lên tiếng tại tòa, không để các nạn nhân của vụ diệt chủng làm nhân chứng hay cách ông ta gần như “ép” David Irving trong việc không dùng bồi thẩm đoàn trong vụ kiện mà là thẩm phán, cuộc đối thoại rất ngắn, câu thoại và vẻ mặt vô cùng nhẹ nhàng, nhưng ánh nhìn và thái độ của David Irving thì có thể hiểu đó là một đòn phủ đầu khá mạnh. Ở Richard Rampton là cảm giác tin tưởng tỏa ra từ người đàn ông nói ít làm nhiều, hành động độc lập nhưng quan tâm đến chính nghĩa, thì Anthony Julius khiến người ta thấy bản chất các công ty luật là những nhà đầu tư, và các vụ án chính là các thương vụ, mà Anthony là một thương nhân điển hình. Khi Richard hay Lipstadt cùng một số nhân vật khác bộc lộ thái độ căm ghét với David Irving thì riêng Anthony chả quan tâm Irving là ai, ông ta đã làm gì… mà quan trọng cần phải thắng vụ án và Irving là mục tiêu cần đánh bại, vậy thôi. Lời thoại trong những cảnh trên tòa là được trích ra từ bản sao của các phiên xử, thật sự là nội dung tranh luận giữa hai bên rất thú vị, kích thích lòng tò mò khá là nhiều. Rachel Weisz vào vai nhân vật chính của phim, Deborah Lipstadt, dù là nữ chính, trung tâm của câu truyện thì vai trò của nhân vật Lipstadt không có gì nổi bật trong những cảnh kiện cáo, vì khi ở tòa, một vụ án kiện kéo dài trong 4 năm, được xử ở tòa cũng mấy tháng thì bà không được phép lên tiếng điều gì (theo ý kiến tư vấn của luật sư); nên việc tạo ấn tượng được với khán giả chính là những lúc ngoài tòa, mối quan hệ giữa bà và các bên liên quan. Bộ phim làm dựa theo tác phẩm của chính Deborah Lipstadt ngoài đời viết nên khai thác khá nhiều cảm xúc cá nhân của bà. Trước đến giờ vẫn luôn có quan điểm rằng ‘lịch sử’ vẫn luôn là những góc nhìn, tất nhiên có những sự kiện, những con số, những câu chuyện có thể là ‘sự thật’ nhưng lịch sử không phải là sự thật, mà là những góc nhìn của những người viết ra, và bạn tin cái gì, tin đến đâu; cũng là lý do mà các nhà nghiên cứu lịch sử vẫn luôn làm không hết việc. Ở đoạn gần cuối phim còn nói đến chủ đề tự do ngôn luận khá là hay. Những câu nói đơn giản nhưng vẫn luôn là điều làm chúng ta thấy hoang mang trong khi ở thời điểm hiện tại người dương cao ngọn cờ tự do ngôn luận nhưng chả mấy biết được liệu tự do thực sự là như thế nào. Và vụ kiện này xảy ra đã gần 20 năm, đến giờ vẫn là câu hỏi lớn…

Fifty Shade Darker

4209

Fifty Shades Darker lần này là câu chuyện nhẹ nhàng và tình cảm hơn. Nếu như phần đầu Anastasia đến với Christian một cách bất đắc dĩ thì lần này là một câu chuyện khác. Được chuyển thể từ cuốn thứ hai của loạt tiểu thuyết phòng the do E.L. James chấp bút, Fifty Shades Darker chính thức ra rạp tại Bắc Mỹ từ 10/2. Trong Fifty Shades Darker, khán giả tiếp tục được khám phá mối quan hệ giữa chàng tỷ phú bạo dâm Christian Grey (Jamie Dornan) và cô gái trẻ Anastasia Steele (Dakota Johnson). Nữ tác giả E L James lý giải về tiêu đề của tập truyện thứ hai này cho biết: “Tôi biết rằng mình phải giữ lại cụm từ “Fifty Shades” vì nó thực sự ấn tượng. Sau đó tôi tự hỏi mình sẽ kể những gì đây trong câu chuyện này. Vì nội dung của cuốn sách xoay quanh những bí mật trong quá khứ đen tối của Christian, nên “Darker” là lựa chọn cuối cùng của tôi cho cuốn sách của mình”. Trả lời phỏng vấn báo chí, Dakota Johnson đã tiết lộ một số kỷ niệm trong quá trình làm phim, cùng với đó là những băn khoăn của cô khi gắn bó với series phim nhạy cảm này. Chia sẻ về lần đầu trải nghiệm những món đồ chơi tình dục, Anatasia ngượng ngùng cho biết: “Bộ phim đề cập đến hành vi BDSM – một dạng khoái cảm được tạo nên bằng những trải nghiệm đau đớn. Chính vì vậy, tôi đã phải tìm hiểu rất kỹ và tập làm quen với đồ chơi tình dục. Ban đầu, tôi cảm thấy hơi ngượng nhưng hiện tại đã quen. Tôi cũng ý thức được về tính nghệ thuật trong những phân cảnh nóng bỏng, chính vì vậy việc diễn xuất cũng trở nên dễ dàng hơn”. Mở đầu phim là cảnh Christian vẫn tìm kiếm và muốn nối lại tình xưa với Anastasia. Bởi lẽ sau cuộc chia tay lần trước anh đã sống dỡ chết dở với sự trống vắng trong tim …. Nhiều bí mật về quá khứ của Grey được hé lộ thông qua tác phẩm. Ngoài hai diễn viên chính, phim còn có sự trở lại của Marcia Gay Harden trong vai mẹ nuôi của Grey, và chào đón gương mặt mới là minh tinh Kim Basinger trong vai Elena Lincoln – một đối tác làm ăn và là người tình cũ của chàng tỷ phú. Trước sự chân thành của Christian, Anastasia đã đồng ý lời đề nghị này, tuy nhiên cô yêu cầu phải có một thỏa thuận giữa hai người: “No more rules, No more secret”. Trong lúc cả hai bắt đầu gây dựng được lòng tin tưởng và bền vững khi bên nhau, thì một “bóng ma” đến từ quá khứ của Christian bất chợt xuất hiện và quyết tâm hủy hoại mọi hy vọng vào tương lai của họ. Trong phần mới, Anastasia thực sự trưởng thành trong hành vi, cô ấy quyến rũ như một người phụ nữ thực thụ. Bên cạnh đó, hành trình tình dục của cô ấy và chàng tỷ phú cũng được khai thác sâu hơn, những mối quan hệ trở nên phức tạp hơn, không còn tập trung vào riêng hai người nữa. Lần này Anastasia nắm thế chủ động, cô chấp nhận tìm hiểu và yêu Christian nhưng theo một cách bình thường. Đương nhiên khi làm tình thì cũng nồng nàn không thua gì phần đầu. Với Fifty Shades Darker, tác giả nguyên tác văn học E.L. James chọn hợp tác với đạo diễn James Foley, thay vì Sam Taylor-Johnson như phần đầu do những tranh cãi giữa hai người. Dựa trên thời gian câu chuyện là mùa đông rồi kéo dài sang đầu xuân, Nelson Coates đứng đầu đội ngũ thiết kế sản xuất của phim đã lựa chọn màu xám làm tông màu chủ đạo để tái hiện một không gian u ám, như một dấu hiệu báo trước những điều không hay sắp sửa xảy tới. Trong đó, căn penthouse hạng sang của Christan là một trong số những bối cảnh có nhiều thay đổi quan trọng nhất, góp phần phản ánh thế giới nội tâm phức tạp của nam chủ nhân của nó, cũng như mở ra cho khán giả được chiêm ngưỡng những khu vực chưa từng được có mặt trước đây trong phần trước. Việc Anastasia biết đến quá khứ của Christian vô cùng quan trọng. Bởi cô ấy có thể đưa ra được quyết định rằng có nên tiếp tục với anh ấy hay không. Những buổi nói chuyện, hẹn hò của cặp đôi này thật sự rất thích. Thích bởi nó tình… thích bởi sự phá cách … So với phần trước, có lẽ phục trang “lột xác” đầy ấn tượng của Ana chính là một trong số những yếu tố khiến khán giả của Fifty Shades Darker cảm thấy hài lòng nhất. Ban đầu trong Fifty Shades Of Grey, Ana mới chỉ là một sinh viên đại học có phong cách thời trang bình dân, dáng vẻ “kín cổng cao tường” đơn điệu. Nhưng sang phần 2, Christian Grey biến Anastasia trở thành nàng công chúa Lọ Lem, được trưng diện hàng trăm bộ áo váy hàng hiệu và trải nghiệm một giấc mơ về câu chuyện tình yêu và sở hữu tất cả những điều mà mọi cô gái đều khao khát. Anastasia thực tâm muốn biết về quá khứ của người mình yêu. Vì thế, sau khi mọi chuyện đã sáng tỏ, cô ấy hiểu thêm về con người và con đường mà anh đã chọn. Anastasia là vậy còn Christian thì phần này có phần lụy tình hơn… Tuy vẫn còn trong người máu ông chủ nhưng tình yêu của anh dành cho Anastasia là quá lớn, lớn đến mức anh bỏ qua cả cái tính gia trưởng và gần như là nghe theo lời cô. Trải qua bao nhiêu chuyện và những cãi vã cũng như tình địch… Christian đã quyết định cầu hôn cô và … dường như đây là một quyết định khó cho Anastasia. Trong Fifty Shades Darker, Ana đã bắt đầu câu chuyện với hình ảnh của một cô gái hoàn toàn yếu thế ở nơi làm việc và đang lúng túng tìm cách thích nghi với môi trường mới ở nhà xuất bản. Đó là một giai đoạn chuyển tiếp quan trọng trong cuộc sống của Ana. Theo mạch phim, Ana cũng sẽ khám phá thêm được nhiều điều ở chính bản thân mình.

Take me home tonight

5837

Hãng phim : Imagine Entertainment Rogue. Thể loại : Hài, lãng mạn. Đạo diễn : Michael Dowse. Biên kịch : Jackie Filgo. Ngày ra rạp : 4 – 5 – 2011. Nội dung tóm tắt : Bốn năm sau khi tốt nghiệp, một thiên tài trung học vụng về sử dụng Ngày lễ Lao động khi chị gái mình ở bên bạn trai làm cơ hội hoàn hảo để tiến tới với người anh phải lòng khi còn học trung học. Cuối những năm 1980, khi Phố Wall đang phát triển, và có vẻ như toàn bộ đất nước đều thanh toán bằng tiền mặt và bội thu lợi nhuận. Phẫn nộ với chủ nghĩa duy vật vây quanh anh, Matt Franklin, một MIT trẻ tốt nghiệp xuất sắc, đã rời khỏi vị trí được trả lương cao của mình tại một phòng thí nghiệm địa phương và nhận một công việc cấp thấp là một nhân viên bán băng video, khiến cho cha anh – Bill, vô cùng kinh ngạc. Và khủng hoảng trong cuộc sống của Matt tiếp tục chồng chất. Cậu bạn thân nhất của anh – Barry, chỉ vừa bị sa thải, còn cô chị thông minh của anh – Wendy đang nhận được 1 lời mời quá giang từ người bạn trai nhạt nhẽo của chị ấy – Kyle, và cô gái Tori Frederking tuyệt đẹp, là đối tượng tôn thờ trong suốt thời gian học trung học mà Matt chưa bao giờ với tới, lần này đột nhiên họ gặp lại nhau. Bây giờ, trong 1 buổi tối hoang dã, nóng nực và vô tư, tất cả mọi thứ dồn vào tâm trí Matt, và kết quả là bùng nổ.

21 Grams

4209

“Đã một thời gian dài rồi kể từ khi anh biết thích ai đó nhiều thế này…” 21 Grams là một phim của đạo diễn người Mexico: Alejandro González Inarritu. Phim kể về 3 gia đình với 3 hoàn cảnh khác nhau: một gia đình với 2 con nhỏ hạnh phúc, một gia đình khác với người cha từng là tội phạm, một gia đình có người đàn ông bị bệnh tim chờ chết… Đây là bộ phim mà bạn không nên bỏ lỡ. Paul Rivers (Sean Penn) là người bệnh chờ thay tim nhưng ông nghiện hút thuốc lá nặng, Paul vẫn lén lút hút khi vợ vắng nhà. Mary, vợ ông đang thử vận may tại khoa sản, bà cố thuyết phục chồng để có được một đứa con trong ống nghiệm… Theo bạn, một cuộc đời có thực sự có trọng lượng chỉ khoảng 21 grams? Nhà phê bình phim Roger Ebert của tờ Chicago Sun Times đã từng nói “Bộ phim này nắm giữ tinh thần của chúng ta, làm chúng ta cảm động, làm chúng ta sững sờ.” Thể loại : Tâm lý. Thời lượng : 124 phút. Công chiếu : 26/12/2003. Biên kịch : Guillermo Arriaga. Hãng sản xuất : This Is That – Focus Feature. Đao diễn Inarritu áp dụng cấu trúc nhiều tuyến chuyện kết nối với nhau trong bộ phim thứ hai này của ông. Mượn một vụ tai nạn xe hơi thảm khốc làm tiền đề, bộ phim có cách kể phi tuyến tính khám phá ở một tầng sâu hơn về cái chết; tính nhân quả của quá khứ, hiện tại và tương lai. Câu chuyện diễn ra với cách thức đan xem giữa hiện tại, quá khứ đã dẫn người xem từ bất ngờ này đến bất ngờ khác cho đến khi nút thắt dần hé lộ… Đây không phải là bộ phim mà có lẽ bạn sẽ quên được. Vợ chồng Michael Peck – Christina (Naomi Watts) thật hạnh phúc, hai cô con gái bé xíu Laura và Katie rất dễ thương. Hôm ấy, Christina đến hồ bơi, ba cha con Michael đưa nhau đi chơi… Jack Jordan là người khác thường, toàn thân đầy hình xăm kỳ quái, trộm cắp từ năm 16 tuổi, thời gian ở tù nhiều hơn ở ngoài xã hội. Ấy thế mà tất cả biến đổi sau chuyến đi tù lần cuối, Jack trở thành người sùng đạo, chăm đi lễ nhà thờ, nhân ái, yêu thương mọi người. Jack thường qua lại giúp đỡ giáo xứ và nâng đỡ đám trẻ ranh đang mon men trượt chân vào con đường sa ngã. Gia đình Jack rất vui vầy, bà vợ Marianne và 2 đứa con nhỏ là tổ ấm của Jack sau mỗi ngày làm việc mệt mỏi. Nhưng sự đời chẳng suôn sẻ mãi, người ta thành kiến với những vết xăm trên người Jack, ông bị đuổi việc tại sân gôn vì những hình xăm làm chướng mắt đám hội viên nhiều tiền giàu đức hạnh! Buồn đời, hôm ấy Jack theo bạn uống rượu giải sầu, đã từ lâu rồi ông không uống…Ba mảng đời khác nhau của 3 gia đình kia hội tụ về một điểm định mệnh trong một buổi chiều bi thương. Ba cha con Michael dắt tay nhau băng qua đường trở về nhà. Jack phóng xe trên đường cua gấp ngã tư… Christina nhận được cú điện từ bệnh viện…Tối hôm ấy, Paul được báo đã có nội tạng cho ông thay thế… Sự khó tính, thông minh, liền mạch, khiêu khích, và trên tất cả, một sự nghiêm túc. 21 Grams thể hiện điều gì? BEGOOD SUBBING TEAM. VUI LÒNG KHÔNG SAO CHÉP HAY SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI. Đặc biệt, đây là dự án nói tiếng Anh đầu tiên của Iñárritu và là lần đầu tiên ông làm việc với các diễn viên vốn đã có tên tuổi như Sean Penn, Naomi Watts và Benicio del Toro. Dù mang màu sắc Hollywood, tuy nhiên cái chất nồng nhiệt, rạo rực nhưng đầy suy tư đậm chất Iñárritu vẫn không lẫn vào đâu được. Tất cả những tình tiết trong phim được diễn tả bằng nhiều trạng thái tâm lý đặc trưng theo vai trò của từng người trong cuộc và trở thành bước ngoặt chi phối cuộc đời mỗi nhân vật… Jack khủng hoảng tinh thần, đau khổ dằn vặt chỉ vì một phút vội vàng đã tước đoạt đi mạng sống của 3 con người, vậy mà ông lại bỏ trốn không lo cứu nạn nhân. Ông không thể tha thứ lỗi lầm đáng trách của mình, quyết định đầu thú và muốn tìm cái chết như một cách chuộc tội… Christina rơi vào vực thẳm, cô mất tất cả, nỗi đau quá sức chịu đựng của con người… Hy vọng. Tình yêu. Hận thù. Tội lỗi và Tha thứ. Paul được cứu sống, trong lồng ngực của ông đang đập trái tim của người khác, nhưng cuộc sống gia đình ông ít nhiều biến động, ông sao nhãng gia đình, chú tâm tìm kiếm ân nhân…Từ ngày phát hiện Christina là người ký giấy hiến tặng tim của chồng cô cho mình, Paul dành toàn bộ công sức để tiếp cận người phụ nữ cô đơn bất hạnh… Cái Chết và Sự Sống. Những xúc cảm rất Con Người khi ở trong những giờ phút tăm tối nhất của cuộc đời. Một người đàn bà, một người vợ, một người mẹ của 2 đứa trẻ hy vọng dứt bỏ được quá khứ nghiện ngập và hướng tới một mái ấm hạnh phúc. Một người đàn ông, một người chồng, một người cha hy vọng về một tương lai sáng sủa hơn sau khi đoạn tuyệt với những ngày tháng tội lỗi. Một người đàn ông khác thì hy vọng có được một trái tim khỏe mạnh để có thể tiếp tục được sống. Và số phận đã khiến cho 3 con đường tưởng chừng song song của họ cắt nhau tại một điểm, bằng một tai nạn khủng khiếp. Rồi cuộc đời họ đã thay đổi hoàn toàn. Người ta nói: Dù bạn có sợ hay ko, rồi bạn cũng phải đối mặt với cái chết. Người ta cũng nói: Cái chết ko phải là sự kết thúc. Cái chết còn là khởi đầu cho một cuộc sống. Người ta còn nói: Tình Yêu có thể vượt lên trên Hận Thù. Và Tha Thứ cũng chính là cho chính mình một cơ hội. Alejandro Gonzalez Inarritu được xếp vào hàng những đạo diễn đương đại tài năng nhất. Phong cách làm phim của Inarritu là đẩy cảm xúc tới tận cùng, mãnh liệt và hiện thực. 21 Grams được cấu thành từ các đoạn giống như ở một bảng xếp hình vậy: 30 phút đầu đa phần người xem chỉ thấy một mớ hỗn độn chưa thấy có sự ăn nhập, lúc thì nhân vật của Penn nằm giường bệnh, lúc lại tung tăng đi lại, Watts thì đùa nghịch với 2 con gái rồi đùng đùng ngồi khóc… đại loại thế. Nhưng dần dần khi đã thu thập được kha khá đoạn rồi và dùng logic đặt chúng vào đúng vị trí sẽ thấy bức tranh toàn cảnh – rõ ràng, hoàn hảo và đầy xúc cảm. Đây chính là thủ pháp ưa chuộng của Inarritu. Cái cần là sự kiên nhẫn, rồi sau đó là cảm giác được đền đáp vì được thưởng thức một tuyệt phẩm. Dàn diễn viên hoàn hảo làm nên thành công cho phim. Diễn xuất của bộ ba diễn viên chính quả là không tì vết.

The Bucket List

4209

Chuyện phim đơn giản và dễ đoán: hai người – một tỉ phú da trắng hống hách mê cà phê chồn và một thợ máy da đen thông minh mê kiến thức – cùng phát hiện ra bị ung thư phổi. Do một chính sách đặc biệt phải tuân theo, cả hai cùng nằm chung một phòng và cùng biết thời hạn mình phải chết (trong vòng 6 tháng đến 1 năm). Không bi kịch, chẳng nước mắt, “The Bucket List” là câu chuyện thấm đẫm tình người, niềm khao khát mãnh liệt đối với cuộc sống. Bắt đầu từ một kịch bản đơn giản, cách dẫn dắt cũng rất chậm rãi và từ tốn, song The Bucket List lại cuốn hút không ít người xem.Bộ phim được đánh giá cao nhất ở phần ý nghĩa tốt đẹp mà nó truyền tải. Bên cạnh đó, diễn xuất nhiều cảm xúc của Jack Nicholson và Morgan Freeman cũng là một điểm thu hút của phim. PHỤ ĐỀ VIỆT NGỮ BỞI BEGOOD SUBBING TEAM. VUI LÒNG KHÔNG SAO CHÉP HAY SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI Ông thợ máy có một danh sách gọi là “bucket list”, ghi ra những điều mình muốn làm nhất trong đời. Ông tỉ phú đọc được, cả hai tranh cãi về cái danh sách ấy, và một quãng đời mới giữa hai người bệnh được mở ra, ly kỳ… Chụm đầu bàn bạc, họ quyết định cùng nhau thực hiện một chuyến chu du vòng quanh thế giới, hoàn tất những ước mơ còn dang dở. Edward khích lệ Carter thực hiện nốt giấc mơ chinh phục Everest và ngược lại Carter khuyên Edward hãy đoàn tụ với con gái … The Bucket List có sự tham gia diễn xuất của 2 tên tuổi gạo cội từng đoạt giải Oscar: Jack Nicholson, Morgan Freeman. Chưa kể đến nội dung, chỉ cần liếc qua danh sách diễn viên, thì đã có thể tràn ngập hi vọng rằng đây là một bộ phim hay. Thể loại : Phiêu lưu, hài hước, tâm lý. Thời lượng : 97 phút. Công chiếu : 11/01/2008. Cả phim như một vở kịch thoại hai nhân vật: ông tỉ phú (Jack Nicholson) và ông thợ máy (Morgan Freeman). Các cảnh quay bình thường, nhiều khi rất sến. Jack Nicholson vào vai một người đàn ông lắm tiền nhiều của, mê cà phê chồn, và có một tuổi trẻ chơi bời, phóng túng. Và quả thực lối diễn xuất tưng tửng, giễu nhại của ông rất hợp với kiểu vai như vậy. Vai tỉ phú của ông khiến người ta nghĩ, hay đạo diễn thực ra muốn chơi xỏ, ẩn dưới bài học “lồ lộ”, dễ được công chúng chấp nhận là “mang lại hạnh phúc cho người thì đời ta mới có ý nghĩa”, chính là những bài học sau mà đạo diễn muốn nói: – Lời người giàu là chân lý. – Phải có tiền, ước mơ mới thành hiện thực. – Để cái chết được nhẹ nhàng, phải có thật nhiều tiền. Jack Nicholson cường điệu một cách vừa đủ cho vai diễn, nên lại tạo nên cảm giác rất tự nhiên chứ không gượng gạo. Bên cạnh đó, gương mặt ông có những nét biểu cảm khá duyên, khiến người xem bật cười. Morgan Freeman tuy giỏi vẫn không thoát khỏi vẻ thâm trầm, biết điều nhưng quật cường xưa nay ông vẫn có. Freeman trong phim này đã diễn thật hay một người thợ máy “tuy tốt bụng, hiểu biết, chung thủy nhưng vẫn chán vợ”; chán đến tận cổ mặc dù biết vợ mình vẫn thế, vẫn là người mà ngày xưa mình say mê, chỉ có cuộc đời đã thay đổi. Morgan Freeman đã cho thấy bản lĩnh của mình, khi nhập vai hoàn toàn tự nhiên, cảm xúc rất trọn vẹn. Vai của ông hình như cũng là một đòn chơi xỏ nữa của đạo diễn và biên kịch, bài học ở đây là: – Hạnh phúc của người giàu là làm cho người nghèo vui. Hạnh phúc của người nghèo là sự may mắn được người giàu giúp. – Chúa của người nghèo chính là người giàu. – Với đàn ông, cạm bẫy của đàn ông hấp dẫn hơn cạm bẫy của đàn bà. Là một bộ phim kiểu tâm lý, hài hước, nên The Bucket List không có hình ảnh nào quá cầu kì, cũng không dùng mấy đến kĩ xảo phức tạp. Bộ phim đem đến những thước phim hết sức dung dị và đời thường. Phim nói về chặng đường tiến về cái chết, làm sao để không còn thời gian than khóc, để có ích, để vui. Xem phim rồi, bạn sẽ không sợ cái chết nữa, nhất là cảnh cuối của phim, làm người xem lâng lâng vui, cảm động. Đặc biệt, kể từ lúc 2 nhân vật bước vào chuyến phiêu lưu, thì người xem cũng được du lịch miễn phí khi máy quay lướt qua rất nhiều khung cảnh đẹp. Đó có thể là khách sạn lộng lẫy, rồi thoắt cái đã trở thành túp lều nhỏ giữa công viên bảo tồn. Xem phim này đi, bạn sẽ ít nhiều thay đổi cách sống, thí dụ như không nghĩ mình sẽ sống đến nghìn tuổi để mỗi ngày có thể lướt web tới 10 tiếng đồng hồ… Cũng nên làm một “bucket list” đấy, có thể đơn giản hơn danh sách của ông thợ máy, để có thể tự mình hoàn tất mà không cần bàn tay một ông tỉ phú nào, giản dị như uống một ly cà phê bình dân mà vẫn ngon, không cần phải cầu kỳ đợi tới lúc con chồn nó cho vài hạt. Nhạc nền được sử dụng khá ít trong phim. Những giai điệu cổ điển nhẹ nhàng và tinh tế, được xem là rất hợp với phong cách chậm rãi, từ tốn của bộ phim. Không chỉ đơn giản trong nội dung, mà cách dẫn dắt bộ phim của The Bucket List cũng rất chậm rãi và từ tốn. Phim không có cao trào, không có nút thắt, cái chết trong phim cũng rất nhẹ nhàng và thanh thản. Diễn biến phim trôi qua một cách đều đều, chậm chạp. Thế nên với những khán giả thiếu kiên nhẫn và quen xem thể loại phim giải trí nhiều cao trào, có lẽ sẽ thấy khá buồn ngủ khi xem phim.

Hidden Figures

4209

Ở thời điểm hiện tại, thật khó tưởng tượng đến những sự kì thị sắc tộc đậm đặc như cách mà nước Mỹ phô bày vào những năm 50-60 của thế kỉ 20. Ba phụ nữ da màu là những người hùng thầm lặng sau sự kiện NASA thành công đưa con người ra ngoài vũ trụ vào thập niên 1960. Nhưng họ còn phải chịu vô số áp lực vì màu da của mình. Điều đó được thể hiện rất rõ trong bộ phim Hidden Figures của đạo diễn Theodore Melfi, dựa theo một sự kiện có thật, bộ phim là hành trình vượt qua mọi trở ngại về kì thị chủng tộc để trở thành những người phụ nữ anh hùng trong ngành khoa học vũ trụ của Katherine G. Johnson (Taraji P. Henson), Dorothy Vaughan (Octavia Spencer) và Mary Jackson (Janelle Monáe). Bộ phim được thực hiện dựa trên cuốn sách cùng tên của Margot Lee Shetterly. Những năm 1960 là quãng thời gian xảy ra “cuộc chạy đua vào không gian” giữa Liên Xô và Mỹ. Trước khi ra đời hệ thống máy tính IBM có khả năng tính toán vượt trội. NASA (cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ) có một cơ quan chuyên biệt bao gồm những người phụ nữ da màu rất giỏi toán. Họ giúp những kĩ sư nam giới da trắng kiểm tra lại những con số, những tính toán trong việc du hành không gian trong khoảng thời gian mà hai nước Mỹ và Liên Xô đang tiến hành chiến tranh lạnh. Họ làm việc trong một căn phòng thiếu tiện nghi, chỉ người da màu với nhau dưới sự giám sát của một người phụ nữ da trắng (Kisten Dunst) luôn lạnh lùng và tỏ rõ thái độ phân biệt sắc tộc. Bằng một xuất phát điểm như vậy, bộ phim xây dựng một câu chuyện về 3 người phụ nữ, với những cách thức khác nhau chứng tỏ được thực lực của mình, cũng như bứt khỏi sự kì thị để tạo nên những kì tích mà tại thời điểm đó, không ai nghĩ những người phụ nữ da màu này có thể làm được. Nổi bật lên trong ba người là Katherine, một thần đồng toán học và hình học không gian. Một ngày, nhóm làm nhiệm vụ xây dựng quỹ đạo đi vào không gian cần một người giỏi tính toán và giỏi hình học. Katherine được thăng chức, cô làm việc dưới sự quản lý của Al Harrison (Kevin Costner) và những đồng nghiệp trẻ đầy thù địch và định kiến với người da màu như Paul Stafford (Jim Parsons). Trong khi đó, Dorothy cùng với Vivian (Kisten Dunst) tạo ra một cuộc cạnh tranh ngầm, khi Dorothy muốn có được một chức vụ chính thức là Giám Sát Viên khi mà những việc cô làm hoàn toàn phụ hợp với chức vụ đó nhưng không bao giờ được thừa nhận nên cô không thể được tăng lương. Trái với katherine và Dorothy, Mary là một người phụ nữ trẻ, và cá tính, cô không chịu được sự kì thị vẫn diễn ra hàng ngày, cô ngẩng cao đầu nhìn đồng nghiệp nam, cô tỏ thái độ rõ ràng với cảnh sát, và với những người làm việc cùng, Mary là một kĩ sư, và cô muốn vượt qua mọi thách thức mà người da trắng tạo ra để có thể có một vị trí xứng đáng và ngang bằng cho mình với khả năng của cô. Hidden Figures đưa khán giả về quãng thời gian sôi động và đầy ắp sự kiện của nước Mỹ. Tàu không gian Friendship 7 thành công trong việc đưa phi hành gia John Glenn bay ba vòng quanh quỹ đạo Trái đất trong khoảng thời gian năm giờ đồng hồ vào năm 1962. Đạo diễn Theodore Melfi, vừa là đồng kịch bản với Allison Schroeder trong việc chuyển thể tác phẩm phi tiểu thuyết của Margot Lee Shetterly đã rất chú trọng truyền tải thông điệp về sự phân biệt sắc tộc. Những chi tiết đắt giá như những lần phải di chuyển rất xa để đến nhà vệ sinh nữ dành cho người da màu, hay chiếc bình cafe dán mác “da màu” thực sự tạo nên sức sống cho chính bộ phim, giúp kéo khán giả vào một thời kì, nơi cuộc sống ở bề mặt dường như rất bình thường của những người phụ nữ da đen ở nhà hoàn toàn đối nghịch với cuộc sống có phần cam chịu và mệt mỏi ở nơi làm việc. Không khó để nhận ra rằng Katherine Goble Johnson của Taraji H. Penson được ưu ái sắm vai trò trọng tâm của toàn bộ tác phẩm. Song, Octavia Spencer và Janelle Monáe không hề tỏ ra lép vế người đồng nghiệp, dù đất diễn của họ khiêm tốn hơn. 3 trái tim của bộ phim, cùng một màu da, nhưng có những sắc thái khác nhau về tính cách, giúp cho bộ phim mang những nét rất rực rỡ của sự tự tin, của những điều đẹp đẽ đang cố gắng bứt ra khỏi lối suy nghĩ thông thường hòng tạo nên vẻ đẹp cho cuộc đời. Diễn xuất của ba diễn viên da màu, từ những cử chỉ, ánh mắt từ thái độ khiêm tốn cho đến sự phản kháng hoàn toàn gây cảm tình cho khán giả, và đồng thời, tạo cho họ một diện mạo đầy tính anh hùng về khả năng vượt qua số phận và tạo nên được những điều kì tích. Các tác phẩm mang chủ đề về sự bất bình đẳng liên quan tới màu da và giới tính thường hay nặng nề. Nhưng Hidden Figures chọn lối khai thác nhẹ nhàng, cố gắng đem đến lời giải thích công bằng cho người xem. Là phim tiểu sử, bộ phim không tránh khỏi có những chi tiết mà đạo diễn cố tình sắp đặt nhằm đẩy tính “kỳ tích” của nhân vật lên tầm cao mới, giúp khán giả có cái nhìn khác, và khâm phục đối với nhân vật. Với Hidden Figures, đạo diễn Theodore Melfi chủ động chọn những gam màu sáng nóng, thể hiện qua phần phục trang cũng như màu xe của các nhân vật trong phim. Bầu không khí thập niên 1960 được xây dựng rất chi tiết: từ phong cách ăn mặc với quần ống loe và áo công sở rộng thùng thình, cho tới phần nhạc nền mang đậm chất jazz do Pharrell Williams biên soạn. Tại lễ trao giải thưởng Oscar 2017, Hidden Figures nhận tổng cộng ba đề cử cho Phim truyện, Nữ diễn viên phụ (Octavia Spencer) và Kịch bản chuyển thể xuất sắc. Tác phẩm cũng mới nhận giải Dàn diễn viên xuất sắc của SAG (Hiệp hội Diễn viên Mỹ) năm nay.

Looper

4209

“Hãy đối mặt với quá khứ của bạn. Đấu tranh cho tương lai của bạn…” Looper là một bộ phim khoa học viễn tưởng được phát hành năm 2012. Bộ phim được viết và đạo diễn bởi Rian Johnson, với sự hợp tác làm phim giữa hai nước Hoa Kỳ và Trung Quốc. Looper có thể là một bộ phim giả tưởng, hành động nhưng có rất ít những màn hành động đẫm máu và võ thuật như những bộ phim của Thành Long hoặc Arnold, Looper chỉ nói lên những vòng đời luẩn quẩn của con người, cái nhân của hiện tại sẽ làm nên cái quả trong tương lai. Bối cảnh trong Looper là bối cảnh xen lẫn tương lại và quá khứ, không quá khó hiểu như loạt phim “Ma Trận”, chỉ đơn giản là khi con người khống chế được thời gian, con người vẫn sử dụng những phát minh vĩ đại vào mục đích xấu như con người đã từng sử dụng cho những phát minh vĩ đại khác của nhân loại. Năm 2074, tránh sự phát hiện của cảnh sát, các tổ chức tội phạm bắt cóc người cần giết rồi gửi về quá khứ 30 năm trước (năm 2044) để các sát thủ kết liễu mạng sống và thủ tiêu xác của họ. Joe (Joseph Gordon-Levitt đóng) là một sát thủ nằm trong mạng lưới đó. Thể loại : Hành động, tội phạm, tâm lý. Thời lượng : 118 phút. Công chiếu : 06/09/2012. Hãng sản xuất : James D. Stern – TriStar Pictures. Phim đã được chọn làm bộ phim mở đầu cho dịp Liên hoan phim quốc tế Toronto 2012. Phim được ra mắt lần đầu ở Úc vào ngày 27 tháng 9 năm 2012, ở Anh và Hoa Kỳ vào ngày 28 tháng 9 năm 2012. Looper là những người “hành quyết” người đến từ tương lai được gửi về quá khứ, mà ở quá khứ chưa có luật khống chế việc đi lại giữa không gian của hai thời điểm khác nhau. Và các looper đôi khi phải tự “hành quyết” con người tương lai của mình, và họ biết rằng chỉ còn sống một khoảng thời gian 30 năm cho đến khi chính họ sẽ được đưa về quá khứ, một vòng tròn khép kín cho trò chơi “nhân quả”. Nếu Joe không thi hành nhiệm vụ, anh sẽ bị giết. Nhưng Joe của tương lai (Bruce Willis đóng) đã đánh anh bất tỉnh và trốn thoát. BEGOOD SUBBING TEAM HÂN HẠNH GIỚI THIỆU. PHỤ ĐỀ VIỆT NGỮ BỞI BEGOOD SUBBING TEAM. VUI LÒNG KHÔNG SAO CHÉP HOẶC SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI. Đối diện với cái chết, đa số sẽ trở nên sợ hãi và mưu cầu cho cá nhân hơn là cho cộng đồng. Joe già cũng vì cuộc sống của mình, đã chấp nhận thay đổi quá khứ bằng cách giết đi “Rain Maker”, và y sẵn sàng hạ thủ những đứa trẻ 10 tuổi của quá khứ bị y tình nghi là “Rain Maker” của tương lai – kẻ sẽ làm thống khổ thế giới trong tương lai – để mưu cầu hạnh phúc cho tương lai. Từ đây, Joe bắt đầu rơi vào một trò chơi nhân quả mà anh vừa là nạn nhân, vừa là thủ phạm… Cái giá phải trả quá nghiệt ngã. Kịch bản của bộ phim không khiến người xem rối rắm giữa hiện tại và tương lai, bộ phim không sử dụng nhiều kỹ xảo điện ảnh để thể hiện năng lực siêu phàm của “Rain Maker” lúc nhỏ, hoặc những pha hành động nghẹt thở, liên tục. Mà chỉ là những hành động ngắn, xen lẫn những cảm xúc hận thù, yêu thương, hèn nhát cũng như trốn tránh cuộc đời. Điều bất ngờ là cùng một con người nhưng nhân vật Joe của hiện tại và tương lai lại hoàn toàn trái ngược nhau. Vì muốn bảo vệ bản thân, muốn trả thù cho người vợ đã bị giết mà Joe tương lai sẵn sàng giết những đứa trẻ mà ông nghi ngờ có khả năng trở thành “Rain Maker” để trừ hậu họa. Trong khi đó, Joe hiện tại lại tìm mọi cách ngăn chặn Joe tương lai và bảo vệ những đứa trẻ vô tội. Kết thúc của bộ phim tưởng chừng là một kết thúc mở, hoặc ít nhất bộ phim không thể làm người xem đoán trước tình huống gì xảy ra. Như tựa đề của bộ phim Looper, bộ phim để người xem tự cảm nhận nhiều khía cạnh và quan điểm của riêng người xem về cách hành xử của Joe già: không chấp nhận với hành động ích kỷ cá nhân, đồng ý bằng cách kết thúc từ nơi bắt đầu. Chính sự đối lập của 2 nhân vật Joe đã đẩy phim đến cao trào và tạo nên một cái kết bất ngờ ngoài dự đoán của khán giả: Joe hiện tại đã ngăn chặn thảm họa bằng cách hy sinh bản thân thay vì giết người. Bởi anh nhận ra nếu để Joe tương lai giết mẹ của Cid, truy sát Cid thì Cid từ một cậu bé ngây thơ sẽ trở nên cô độc và đầy hận thù, sẽ nhanh chóng trở thành “Rain Maker”. Nhưng thời gian luôn là những xâu chuỗi phức tạp của nhiều tình huống, như Hiệu ứng Bươm Bướm, một hành động xảy ra ở thời điểm là một chuỗi liên hoàn những việc xảy ra trong tương lai, một thay đổi nhỏ ở thời điểm có thể sẽ gây ra thảm hỏa kinh khủng của thời điểm khác. Looper như một vòng tròn luẩn quẩn những nỗi thống khổ, ngự trị và bị ngự trị, oán thù và trả oán thù, và một điểm chốt trong quá khứ sẽ làm thay đổi hoàn toàn tương lai. Joe hy vọng nếu để Cid sống trong vòng tay yêu thương, trong sự dạy dỗ chu đáo của mẹ thì tương lai có thể sẽ khác… Ngoài kịch bản hay, ý nghĩa nhân văn của câu chuyện cùng diễn xuất tuyệt vời của bộ đôi diễn viên chính trong vai Joe đã khiến “Looper” là một trong những phim đáng xem. Hãy để trẻ em sống cuộc sống bên cạnh người thân yêu, để được dạy dỗ vẫn hơn là lang thang, côi cút. Bộ phim không quá xuất sắc, nhưng đủ để lại người xem ấn tượng.

Home Alone – Ở Nhà Một Mình

6174

“Ở nhà một mình” (Home alone) là bộ phim hài nổi tiếng mỗi dịp Giáng sinh dành cho cả gia đình, từ già đến trẻ. Thật không dám tưởng tượng một mùa Giáng sinh mà không được xem bộ phim về cậu nhóc Kevin thông minh, nghịch ngợm cùng hai tên trộm hậu đậu, có vẻ không giống trộm cho lắm. Bộ phim đã chinh phục rất nhiều khán giả trên thế giới, đặc biệt là khán giả thiếu nhi. Bộ phim được công chiếu lần đầu tiên vào năm 1990, kể về cậu bé Kevin bị gia đình bỏ rơi khi đi nghỉ dịp lễ Giáng Sinh chỉ vì cãi nhau với mẹ. Để thích nghi với tình huống tréo ngoe này, chú nhóc 8 tuổi phải tự mình xoay xở tất cả từ đi chợ, nấu ăn, giặt giũ, đi lễ nhà thờ và trông nhà… Giống như nhiều chú nhóc ở lứa tuổi đó, Kevin cũng sợ ma, sợ bóng tối, nhưng lần này thử thách lớn nhất là Kevin phải một mình đương đầu với 2 tên trộm ma mãnh, đang tìm cách đột nhập nhà chú để khuân đồ… Sau đó cậu ra kế hoạch đặt bẫy và cho chúng bài học. Bộ phim Ở nhà một mình là phim có doanh thu cao nhất thứ ba của mọi thời đại. PHỤ ĐỀ VIỆT NGỮ ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI BEGOOD SUBBING TEAM VUI LÒNG KHÔNG SAO CHÉP HAY SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI. Bộ phim diễn ra với những tiếng cười hài hước trước những kế hoạch của Kevin để bảo vệ ngôi nhà của mình. 25 năm trước đây, khi Home Alone công chiếu, cả nước Mỹ từ già đến trẻ rồng rắn bất chấp mùa Đông lạnh giá để vào xem nhóc Kevin tung hoành ngang dọc, một mình chống lại 2 tên trộm bằng những sắp đặt và mưu mẹo ngộ nghĩnh của một chú nhóc 8 tuổi. Ý tưởng cho Home Alone bắt nguồn từ một cảnh trong bộ phim hài gia đình Uncle Buck (1989) của John Hughes (kịch bản và đạo diễn). Lúc ấy cậu bé Macaulay Culkin 9 tuổi (nickname là Mac), đóng một vai nhỏ trong phim. Khi quay cảnh Culkin nói chuyện với cô bảo mẫu qua cái khe của hòm thư trước cửa, John Hughes rất ấn tượng và kinh ngạc trước diễn xuất rất thông minh và lém lỉnh của cậu. Ngay lập tức Hughes nghĩ ra câu chuyện Home Alone để dành riêng cho Macaulay Culkin. Do kẹt nhiều dự án, nên John Hughes chỉ làm sản xuất và mời Chris Columbus đạo diễn. Mặc dù vai diễn Mac được John Hughes viết riêng cho Culkin, nhưng khi casting vẫn có vài trăm cậu bé khác đến diễn thử vai này cho đạo diễn Chris Columbus xem, chỉ vì ông muốn xác minh rằng mình không lầm khi chọn Culkin cho vai diễn. Tổng cộng, doanh thu của bộ phim thu về khoảng 476,684,675 đôla trên toàn thế giới. John Hughes lúc ấy là ông vua của những bộ phim hài gia đình, nên khá nhiều diễn viên nổi tiếng đều muốn tham gia trong phim của ông. Nhưng John Hughes e rằng sự xuất hiện của các ngôi sao này sẽ làm mờ nhạt diễn xuất của Macaulay Culkin, nên ông quyết định chỉ chọn 2 cái tên kém nổi tiếng là John Heard và Catherine O’Hara để thủ vai bố mẹ của Culkin. Hai tên trộm là những nhân vật rất quan trọng xuyên suốt câu chuyện, nên John Hughes muốn mời ít nhất 1 ngôi sao nặng ký. Tên đầu sỏ Harry Lyme (được đặt theo tên nhân vật của Orson Welles trong bộ phim The Third Man – 1949), Hughes rất muốn mời Robert De Niro vai này, nhưng ông từ chối vì quá bận. Cuối cùng Hughes quyết định mời Joe Pesci để tận dụng thể hình thấp bé của ông cho thêm phần hài hước, đối nghịch với tên đồng bọn cao kều do Daniel Stern thủ vai. Lúc ấy Joe Pesci vừa đóng vai tên giang hồ cục súc trong phim Goodfellas (1990) và lập kỷ lục văng tục gần 150 lần từ “F…”. Cho nên khi đóng vai tên đầu trộm đuôi cướp trong Home Alone, Joe Pesci cứ quên rằng mình đang đóng một bộ phim gia đình, nên trong suốt những cảnh giận dữ ông cứ “F…” liên tục! Đạo diễn Chris Columbus phải khuyên ông bỏ bớt thói quen này, nếu kẹt quá thì đổi thành từ… “Fridge” (tủ lạnh), thay vì từ “F…”! Để có được những cảnh quay chân thực hơn, nam diễn viên Pesci muốn diễn viên nhí Macaulay Culkin (Kevin) thực sự sợ mình, vì thế ông cố gắng chạm mặt cậu bé càng ít càng tốt. Bộ phim “Thiên thần với linh hồn bẩn thỉu” mà Kevin xem khi ở nhà thực ra không có thật. Cảnh phim đánh nhau của tên găng-xtơ được quay riêng dành cho bộ phim “Ở nhà một mình.” Hãng 20th Century Fox bắt được dự án này, sau sự từ chối của Warner Bros khi kinh phí leo thang từ 14 triệu lên 17 triệu USD. Ngày 16-11-1990, bộ phim Home Alone ra mắt khán giả và nhanh chóng thổi một cơn bão vé trên toàn thế giới. Cái tên Macaulay Culkin đã trở thành một trong những diễn viên xuất hiện nhiều nhất trên các phương tiện truyền thông. Người ta thậm chí không cần phải xem phim mới biết cậu bé đáng yêu như thế nào. Địa chỉ ngôi nhà mà gia đình Kevin sống trong phim là số 671 Lincoln Avenue, làng dành cho người giàu Winnetka, bang Illinois. Ngôi nhà 3 tầng được thiết kế cho hộ gia đình được rao bán với mức giá 2,4 triệu đô năm 2011 và đã được mua năm 2012 với giá 1,585 triệu đô. Hiện tại ngôi nhà là một địa điểm thu hút khách du lịch nổi tiếng.

Original Sin

7105

“Không đây không phải là một truyện tình, mà là một câu chuyện về tình yêu…” “Em là ai đó khác khi em ở cùng với anh, ai đó còn hơn cả chính em.” Bộ phim Original Sin kể về chuyện tình lãng mạn của anh chàng Luis Antonio Vargas, một người bán cà phê giàu có tại Cuba những năm 1980, đăng mẩu quảng cáo tìm vợ Mỹ và nhận được tấm ảnh của nàng Julia Russell, từ Delaware. Thế nhưng, người phụ nữ xuất hiện trước mặt anh lại còn quyến rũ hơn trong bức ảnh, lý do đưa ra là cô muốn thử lòng anh. Tình yêu sinh ra tất cả. “Thánh thiện hay tội ác cũng chỉ là hai mặt của tình yêu” là ý tứ của phim, một bộ phim rất “tội lỗi” và rất quyến rũ của Angelina Jolie đóng cặp với tài tử Antonio Banderas hồi cô còn rất trẻ. Thể loại : Tâm lý, bí ẩn, lãng mạn. Thời lượng : 118 phút. Công chiếu : 03/08/2001. Đạo diễn : Michael Cristofer. Biên kịch : Cornell Woolrich – Michael Cristofer. Hãng sản xuất : Hyde Park Entertainment – Metro-Goldwyn-Mayer. Bị tiếng sét ái tình, Luis cưới nàng ngay và yêu thương hết mực. Thế nhưng, cô gái đó lại chính là kẻ lừa đảo. Trong Kinh thánh, khi Adam và Eva yêu nhau, đó cũng là lúc mà tội lỗi của con người xuất hiện. Vì có yêu, có thương nên mới sinh ra ích kỉ, kỳ vọng, thiên vị… Cùng tên đồng loã, cô nàng chuyên đi cuỗm tiền của những gã đàn ông giàu có. Tuy nhiên, lần này nàng lại trót đem lòng yêu Vargas, người luôn yêu nàng say đắm dù trong bất kỳ tình huống nào. Hai nhân vật chính của chúng ta cũng tựa như tổ tiên của loài người từ khi chưa ăn táo cấm trên vườn địa đàng. Người đàn ông giàu sang, Luis (Antonio Banderas), tin rằng mình không cần phải yêu để sống trọn vẹn, chỉ cầu mong cuộc đời bình yên bên cô vợ sắp cưới người Mỹ quen biết qua thư. Một phụ nữ đẹp ma mị, Bonny Castle (Angelina Jolie), nhưng lại mang trong mình nỗi đau không thể yêu ai vì quá khứ của bản thân cũng như cách mà cô ta đang sống: Lừa dối đàn ông. BEGOOD SUBBING TEAM. VUI LÒNG KHÔNG SAO CHÉP HAY SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI. Khi Bonny và đồng phạm cao chạy xa bay với mớ tiền thì người chồng truy đuổi cũng chỉ với mục đích tìm lại cô. Trong bộ phim này, điểm nổi bật nhất là tình yêu của Luis dành cho Bonny. Trong khi người đàn ông đắm chìm trong tình yêu dành cho cô vợ mới cưới xinh đẹp mà không hay mình đang bị lừa dối mỗi ngày thì người phụ nữ lại bị dằn vặt giữa mục đích ban đầu của cô ta và một mong ước về hạnh phúc viên mãn bên cạnh tình yêu mới chớm. Suốt cả bộ phim là hành trình đuổi bắt của một người đàn ông cống hiến đến tận cùng bản thân cho người phụ nữ dạy anh ta biết thế nào là tình yêu đầu tiên trong đời, nhưng vĩnh viễn người đàn ông đó cũng không thể nắm được trái tim của người phụ nữ trong vòng tay mình. Câu nói đặc trưng của Luis là: “Anh yêu em vì chính em, dù em là Juia hay là Castle”. Trong tình yêu, dù là giới tính gì, chúng ta vẫn thường luôn sợ thiệt thòi, sợ rằng tình yêu người kia dành cho mình không đủ lớn. Con người, luôn là những kẻ sợ tổn thương. Chúng ta thu thập kinh nghiệm, viết thành sách, biến chúng thành những câu chuyện truyền miệng, lưu trữ kinh nghiệm dưới mọi hình thức có thể luân chuyển được chỉ với mong muốn những thế hệ kế tiếp có thể giảm thiểu nguy cơ tổn thương cả về thể xác lẫn tinh thần. Nỗi sợ tổn thương đã nằm trong huyết quản của nhân loại ngay từ khi mới sinh ra, dù là với kẻ can đảm tột bậc trên thế giới này. Điều này lại càng đúng, nhất là với tình yêu. Vì thương tổn thể xác có thể lành lặn, còn thương tổn tình yêu chỉ có thể chữa bằng một loại thuốc tương tự hiếm có khó tìm khác: Tình yêu! Vậy mà Luis trong “Original Sin” lại không chọn giải pháp đó, anh ta tiếp tục đi tìm kẻ đã gây ra tổn thương cho đời mình, người đã từng lấp đầy cuộc đời anh ta rồi rút hẳn cái khoảng trống đó ra ngoài để lại một Luis “Anh không thể sống thiếu em”. Anh ta cống hiến tất cả những thứ quý giá trên cả tinh thần và vật chất. Luis, từ một người đàn ông có vị trí trong xã hội, một kẻ đầy duy lý và thực tế, dưới bước chân của tình yêu, bản chất của anh ta bị dẫm nát, trở thành một kẻ lụy tình. Còn Bonny, người phụ nữ đẹp ma mị, trước tình yêu, cô ta cũng tận hiến, nhưng theo một cách rất khác: Vùng vẫy giữa những gốc rễ của quá khứ, cố tìm cách thoát ra và đặt sự tin tưởng vào thứ tương lai mơ hồ không lối thoát. Trên con đường tìm kiếm lối thoát cho cả hai, họ không ngừng kéo nhau vào những tội lỗi lẫn hạnh phúc mà thiên đường cấm đoán từ thuở khởi nguyên. Đến cuối cùng, mọi sự sẽ diễn ra thế nào, người đàn ông tận hiến đến cùng cho tình yêu có được đáp trả như anh ta mong muốn? Người phụ nữ có đi qua nổi thứ quá khứ ám ảnh và những mặc cảm của bản thân? Bạn sẽ chẳng thể nào biết nếu không ấn nút play và bắt đầu 2 tiếng thưởng thức trọn vẹn một tình yêu đầy đam mê xen lẫn nhục cảm của hai kẻ đã từng tin rằng mình không thể yêu. Bởi vì tình yêu chính là khi bạn chấp nhận mọi khổ đau, phản bội mà người ấy mang đến cho mình, mà vẫn thầm lặng yêu người ấy.

By The Sea

4209

Trong số các dự án điện ảnh gây chú ý gần đây, By The Sea nhận được sự quan tâm lớn của khán giả cùng giới truyền thông bởi sự góp mặt của cặp đôi “vàng” Angelina Jolie – Brad Pitt. Về nội dung của By The Sea, phim xoay quanh cuộc sống của cặp vợ chồng nhà văn người Mỹ Roland và Vanessa vào những năm 1970. Họ quyết định đến nghỉ dưỡng tại một vùng quê nước Pháp có phong cảnh vô cùng nên thơ. Tuy nhiên, cuộc hôn nhân của hai người lại đang đứng trên bờ vực thẳm. Trong kỳ nghỉ này, Vanessa cùng Roland quyết định dành thời gian làm quen với cặp vợ chồng mới cưới Lea (Mélanie Laurent) – François (Melvil Poupaud). Họ cũng làm thân với hai người bản địa là Michel (Niels Arestrup) và Patrice (Richard Bohringer). Angelina Jolie chia sẻ trên The New York Times rằng cô lo lắng trước khi đóng cảnh khỏa thân trong bồn tắm ở phim By the Sea. “Có khá nhiều cảnh tôi muốn thay đổi hoặc cắt bỏ. Tôi nhận ra mình phải diễn cảnh khỏa thân trong bồn tắm và định gạt nó đi. Tuy nhiên sau đó, tôi thấy không thể bỏ cảnh đó chỉ vì mình đã phẫu thuật ngực hay vì sợ kết hôn rồi thì mọi người sẽ bàn tán không hay về mình”, minh tinh 40 tuổi nói. Việc một nữ diễn viên chuyển sang nghề đạo diễn luôn là chuyện hiếm ở Hollywood. Càng hiếm hơn những cá nhân như Angelina Jolie, người dù bận bịu với đại gia đình và các công việc từ thiện, vẫn cho ra đời tới 3 bộ phim chỉ sau có 5 năm. Trong bộ phim tâm lý lãng mạn By the Sea, Angelina Jolie vừa làm đạo diễn, vừa là bạn diễn của ông xã Brad Pitt. Đóng vai một cặp vợ chồng nên Brangelina đã có vài cảnh nóng cùng nhau. Không phải ai cũng gặt hái được thành công ngay với tác phẩm đầu tay, lại càng không phải ai cũng duy trì được phong độ ổn định như Angelina Jolie. Từ năm 2011 đến nay, cô đã đạo diễn tới 3 tác phẩm, gồm In The Land Of Blood And Honey, Unbroken và By The Sea. Nữ diễn viên kiêm đạo diễn 40 tuổi chia sẻ trên tạp chí Us: “Thứ kỳ cục nhất trên trái đất là bạn nằm khỏa thân trong bồn tắm với một chiếc iPad trên tay để theo dõi cảnh quay bên ngoài. Trong khi đó, chồng bạn đang đứng ở cửa và bạn chỉ đạo cho anh ấy tiến vào để làm tình với bạn. Và thêm nữa, cả hai đóng cảnh ấy trước cả tá đàn ông đang quay phim”. Nữ diễn viên cho biết thêm, ở vị trí đạo diễn kiêm diễn viên chính, cô thường xuyên phải ra quyết định mạnh mẽ và kiên định. Lúc nào Angelina Jolie cũng sẵn sàng hô “cắt”, cả khi đang diễn cảnh khóc điên dại hay cảnh giường chiếu với Brad Pitt. Bên cạnh vai trò đạo diễn, Angelina Jolie còn kiêm luôn vị trí biên kịch và đảm nhận vai nữ chính. Trong phim Angelina Jolie và nhà quay phim Christian Berger chủ yếu sử dụng ánh sáng tự nhiên chứ rất ít khi dùng đèn. Brad Pitt đã cố gắng hết sức giúp Angelina không cảm thấy ngượng ngùng và che chắn cho cô. Bà mẹ 6 con kể: “Chúng tôi là những nghệ sĩ và có thể tự do diễn xuất. Nhưng trong trường hợp này – bạn diễn lại là vợ anh ấy. Nhiệm vụ của anh ấy là cầm khăn tắm che chắn cho tôi”. Mỹ nhân quyền lực Hollywood không ngại khán giả so sánh chuyện hôn nhân của cặp vợ chồng trong phim và chuyện gia đình thực của cô. Minh tinh thừa nhận cô và Brad Pitt không hoàn hảo, thường xuyên tranh cãi. Từ đó, hai người dần tìm ra những khúc mắc trong cuộc hôn nhân của họ để giải quyết chúng. By The Sea đã tiến hành quay ngoại cảnh tại Malta. Dù có thành công hay không nhưng những gì mà Angelina Jolie đã chứng tỏ trong suốt 5 năm qua, với 3 bộ phim, cũng đủ khiến khán giả phải ngả mũ khâm phục. By The Sea được sản xuất bởi hãng Plan B Entertainment do chính Brad Pitt làm giám đốc điều hành và được phát hành bởi hãng Universal. Về vai diễn của Maddox, nữ đạo diễn cho con trai đóng những cảnh nhẹ nhàng và vui vẻ. “Thằng bé hay kêu ‘Thích quá mẹ ơi’ trên phim trường”, cô kể. Angelina Jolie cho biết: “Đây là câu chuyện kể về một mối quan hệ tưởng chừng như sắp đổ vỡ vì sự mất mát. Ngoài ra, nó còn nhắc đến sự kiên cường trong tình yêu cùng con đường mà hai nhân vật chính cùng nhau giải quyết những vấn đề của họ và học cách chấp nhận”.

Into The Woods : Khu Rừng Cổ Tích

4209

“Cẩn thận với những điều mà chàng nói. Trẻ con sẽ lắng nghe…” Hàng trăm năm qua, những câu chuyện cổ tích như Lọ Lem, Cô bé quàng khăn đỏ, Jack & Cây đậu thần hay Công chúa tóc mây đã nuôi dưỡng tâmhồn bao thế hệ trẻ em trên khắp thế giới. Những hình ảnh như chiếc giày thủy tinh, hạt đậu thần, mái tóc dài bằng cả ngọn tháp cổ… đã trở nên kinh điển và đi sâu vào tiềm thức của hàng triệu người. Năm 1986, vở kịch Into the Woods gây chú ý khi đưa rất nhiều nhân vật cổ tích vào chung một câu chuyện. Tới năm 2014, phiên bản điện ảnh ra mắt tiếp tục gặt hái được những thành công, trong đó có ba đề cử Quả Cầu Vàng 2015, bao gồm cả hạng mục “Phim hài/nhạc kịch hay nhất”. Ngày xửa ngày xưa, ở một vương quốc xa xôi, cha của cậu bé Baker bị bắt quả tang ăn trộm hạt đậu thần trong vườn rau của mụ phù thủy. Hình phạt dành cho việc đánh mất hạt đậu là phù thủy sẽ phải chấp nhận một hình hài gớm ghiếc. Để trả thù, mụ buông một lời nguyền rủa độc ác xuống gia đình nhà Baker, rằng Baker và vợ cậu sẽ vĩnh viễn không bao giờ có thể có con. Nhiều năm sau đó, khi Baker và vợ phát hiện ra lời nguyền đen tối ấy, họ đã quyết đi vào rừng sâu để tìm cách hóa giải lời nguyền và hồi phục nhan sắc cho phù thủy. Trong hành trình đi vào rừng thẳm, họ đã gặp Lọ Lem đang trên đường trốn chạy khỏi cung điện trên đôi hài bằng vàng, Cô bé quàng khăn đỏ đang trên đường tới thăm bà thì bị chó sói đuổi theo, Công chúa tóc mây Rapunzel bị phù thủy giam cầm trong một tòa tháp và Jack đang trên đường ra chợ để bán chú bò Milky White giúp mẹ nguôi giận. Mỗi người đều đang có một việc để làm, với mong muốn hiện thực hóa một điều ước của bản thân… Thể loại : Phiêu lưu, giả tưởng, nhạc kịch. Thời lượng : 125 phút. Công chiếu : 08/12/2014. Đạo diễn : Rob Marshall. Biên kịch : James Lapine. Hãng sản xuất : Walt Disney Pictures. Thoạt nhìn poster và nghe tên, Into the Woods có vẻ như là một bộ phim cổ tích, gia đình vui nhộn kiểu Enchanted. Tuy nhiên, thực chất đây là một tác phẩm không dễ xem. Cách gửi gắm thông điệp hiện thực vào các câu chuyện cổ tích dễ khiến cho nhiều đứa trẻ vốn đã quen thuộc với bản gốc cảm thấy hoang mang, cho rằng “phim kể sai chuyện”. Ý nghĩa cùng tính ngụ ngôn mà Into the Woods đem tới dường như phù hợp hơn với những khán giả trên 12 tuổi. Phong cách nhạc kịch của Into the Woods sẽ gần hơn với Les Miserables, Moulin Rouge, Chicago chứ không giống như Mamma Mia! nên những khán giả vốn không quen xem nhạc kịch Broadway – nhạc lồng vào thoại – sẽ cảm thấy hơi sốt ruột. Tuy nhiên, dàn diễn viên của Into the Woods lại có giọng hát tuyệt vời. Từ Meryl Streep, Emily Blunt, Anna Kendrick cho tới Johnny Depp, James Corden hay Chris Pine đều có những màn khoe giọng cảm xúc, tạo được dấu ấn riêng trong từng trường đoạn. Khoảnh khắc hài hước nhất của phim là trường đoạn hai chàng hoàng tử si tình hát cùng nhau bên bờ suối. Lồng ghép những câu chuyện cổ tích vào với bối cảnh chung là khu rừng, bộ phim châm biếm, giễu nhại sự mơ mộng của thế giới cổ tích. Thay vào đó, Into the Woods phơi bày hiện thực, dục vọng thấp hèn và sự dối trá của con người. Mỗi nhân vật đều có những mặt tốt – mặt xấu và luôn phải đấu tranh với chính bản thân. Tuy nhiên, so với phiên bản nhạc kịch thì Into the Woods bản điện ảnh đã tiết chế sự tăm tối và bi kịch. Bối cảnh khu rừng u ám nhưng đến cuối phim, vầng dương thể hiện cho sự lạc quan vẫn xuất hiện. Các nhân vật cổ tích xuất hiện trong phim đều đi ngược lại với truyện gốc. Trải qua một hành trình dài cùng các nhân vật, người xem mới có thể thấm thía những thông điệp như “Hãy cẩn thận với những điều ước”, “Hãy là một đứa trẻ khi còn có thể”. Có thể nói Into the Woods là một bộ phim khá “nặng” nên dù bối cảnh đẹp, diễn viên hát hay, nhiều cảnh hài hước nhưng khi xem xong, khán giả sẽ khá mệt. Dẫu vậy, phim vẫn là một tác phẩm mới lạ của năm 2014 mà những ai yêu điện ảnh không thể bỏ qua.

Passengers

6970

Một con tàu vũ trụ chậm rãi tiến tới, lướt qua những khối thiên thạch trôi nổi với một sự vững chãi được lập trình. Trong con tàu, 5.000 hành khách và gần 300 thành viên phi hành đoàn nằm yên trong tình trạng ngủ đông. Bộ phim Passengers diễn ra trong một tương lai không xác định, khi việc du hành không gian đến các hành tinh xa xôi đã trở nên quen thuộc. Tất cả sẽ chỉ được đánh thức khi Avalon gần tới đích. Thức dậy trên Avalon, Jim Preston (Chriss Pratt) nhanh chóng nhận ra buồng ngủ đông của mình bị lỗi và anh đã tỉnh giấc sớm hơn mọi người 90 năm trên chuyến hành trình từ Trái Đất đến một hành tinh di cư mới. Cả con tàu không có một sinh vật sống nào đang hoạt động, trừ Jim và một gã bartender người máy biết trò chuyện. Passengers không có cái vẻ xa xôi cô độc như Gravity hay Martian, dĩ nhiên, vì nó là phim giải trí đại chúng. Phim mở đầu rất tốt: lúc dồn dập, lúc chậm rãi, xen lẫn là cảm giác rờn rợn bí ẩn. Jim cứ thế sống cô độc trong con tàu không gian hiện đại, sang trọng, nhưng không hề có lấy một bóng người. Chán nản và tuyệt vọng với viễn cảnh phải sống toàn bộ quãng đời còn lại đơn độc giữa không gian, anh chỉ biết bầu bạn và tâm sự với Arthur (Michael Sheen) – chàng người máy phục vụ tại quầy bar trên tàu. Dù cố gắng thế nào, Jim cũng không tìm ra cách để có thể ngủ đông trở lại hoặc quay về Trái Đất. Cho đến khi anh vô tình nhìn thấy Aurora Lane (Jennifer Lawrence) xinh đẹp trong buồng ngủ đông của cô ấy. Bằng tất cả lí trí, Jim phải lựa chọn giữa việc tiếp tục là một kẻ cô độc trên con tàu rộng mênh mông chờ ngày chết hay đánh thức cô gái kia dậy để bầu bạn. Kết quả thế nào, hẳn các bạn thừa sức đoán được. Passengers có phần mở đầu khá bí ẩn và kịch tính, bằng việc giới thiệu sơ lược con tàu không gian kỳ vĩ Avalon, cùng vụ va chạm với một thiên thạch to lớn khiến cho phương tiện bị hư hại nhẹ. Hậu quả chính là chuyện hành khách Jim Preston bị thức dậy sớm những 90 năm. Tuy nhiên, trái ngược với bối cảnh không gian vũ trụ có phần bí ẩn ban đầu, Passengers không phải là tác phẩm khoa học giả tưởng phức tạp hay chứa đựng những ý tưởng, bí mật cao siêu. Bộ phim chủ yếu đi sâu khai thác tâm lý và mối quan hệ giữa hai nhân vật chính Jim và Aurora. Đúng, cốt truyện của Passengers chỉ đơn giản như thế. Nó không phải một bộ phim lấy đề tài du hành không gian hay khoa học vũ trụ làm chủ đề như nhiều người lầm tưởng. Song song với việc xây dựng nhân vật, phim cũng dần hé lộ một số tình tiết về con tàu Avalon, chuyến đi kéo dài 120 năm, hành tinh Homestead 2, những công nghệ tân tiến mà loài người đã tạo ra… Diễn biến tâm lý của Jim Preston được phát triển khá tự nhiên. Nhưng, chính bối cảnh của phim tạo ra những điều thú vị, trở thành chất xúc tác cho sự phản ứng giữa tình yêu và sự cô đơn để sinh ra thứ cảm xúc yêu đương rất đẹp đẽ. Cả bộ phim gần như chỉ có 3 diễn viên, nam nữ chính và anh người máy bartender trong vai trò bầu bạn, đến gần cuối mới xuất hiện thêm một nhân vật nữa. Thông qua hành trình của Jim Preston ở 1/3 đầu phim, Passengers khá thành công trong việc khắc họa nỗi cô đơn, bé nhỏ của loài người trước sự vô hạn của không gian – thời gian. Công nghệ dù có phát triển đến đâu thì cuộc đời con người vẫn là hữu hạn. Chris Pratt thể hiện rất tốt cảm xúc qua ánh mắt và biểu cảm khuôn mặt. Chỉ bằng một vài cảnh quay đầu tiên, anh đã nhanh chóng khiến khán giả tin vào sự cô đơn của Jim. Nhịp điệu của Passengers bắt đầu thay đổi khi Jim tìm thấy chiếc kén của Aurora, và anh phải lòng cô. Với một người có tương lai bế tắc như Jim, Aurora như trở thành động lực, mục đích sống mới dành cho chàng trai. Chính điều đó đã thúc đẩy Jim đi đến hành động đầy ích kỷ: đánh thức Aurora khi con tàu Avalon còn cách đích tới 89 năm, đồng thời lừa dối rằng cô cũng là nạn nhân của một sự cố giống như anh. Toàn bộ 2/3 thời lượng còn lại của bộ phim xoay quanh mối quan hệ kỳ lạ giữa Jim và Aurora, với nhiều sự kiện xảy ra khiến cho mỗi nhân vật không ngừng thay đổi. Aurora là một vai diễn dễ dàng cho Jennifer Lawrence khi mà khán giả đã biết đến cô với nhiều vai phức tạp hơn. Do đó, cô gái nhà văn luôn đi tìm một thành tựu vĩ đại rồi chới với trong tình yêu mà cô không thể kiểm soát được Jennifer thể hiện tròn trịa và tạo được sự thông cảm. Tương tác của hai người cũng rất tốt qua sự trao đổi bằng ánh mắt, những màn đối thoại ngắn nhưng thú vị. Diễn xuất hòa hợp của Jenn và Chris khiến cả bộ phim cứ như trở thành màn trình diễn của riêng hai người, một thế giới sống động của Jim và Aurora trong những khuôn hình lạnh ngắt màu kim loại. Hai con người cô đơn mắc kẹt giữa con tàu vũ trụ lạnh lẽo giữa không gian vô tận, kết nối với nhau một cách tự nhiên, để rồi đổ vỡ và trở thành kẻ thù khi hành vi tội lỗi bị bóc trần. Passengers lúc này trở nên hấp dẫn hơn, với sự xuất hiện của nhân vật nữ chính có cá tính mạnh mẽ, cũng như cảm giác tội lỗi của nhân vật nam chính. Điều hay ho trong kịch bản của Passengers không phải tình yêu của Jim và Aurora được xây dựng, xung đột rồi hàn gắn ra sao mà từ những điều ẩn dụ xuyên suốt phim. Khán giả tiếp tục dõi theo diễn biến tâm lý của Aurora khi cô rơi vào tình trạng tương tự Jim ở đầu phim, đồng thời xem Jim làm thế nào để che giấu hành động ích kỷ ngang với giết người. Điều thú vị nằm ở chỗ khán giả khó lòng có thể đánh giá chính xác hành động của Jim trong tình thế ấy rốt cuộc là đúng hay sai, là nên hay không nên. Dù là một tội lỗi, thậm chí là một tội ác, nhưng cũng chính là sự khởi đầu của một tình yêu mãnh liệt. Jim yêu Aurora vì những gì cô làm được trong quá khứ, anh vốn chẳng có mục tiêu gì cho tương lai cho đến khi gặp Aurora và anh muốn cùng cô sống hết cuộc đời còn lại thật vui vẻ trên con tàu, hay thậm chí là những hy vọng đẹp đẽ hơn như xây cho hai người một căn nhà ở hành tinh mới. Một mặt, có người sẽ đồng cảm sâu sắc với Jim, bởi nhu cầu được giao tiếp, chia sẻ của một cá thể cô đơn, lạc lõng giữa vũ trụ chính là mục đích sống duy nhất, níu giữ anh tiếp tục chuyến hành trình trên con tàu Avalon lạnh lẽo. Mặt khác, lý trí, chuẩn mực đạo đức thông thường sẽ không chấp nhận để Jim phá hoại cuộc sống người khác nhằm đáp ứng ham muốn ích kỷ của bản thân. Trong khi đó, Aurora lại có một mục tiêu rất rõ ràng ở tương lai nên mới chấp nhận tham gia vào chuyến du hành, bỗng chốc kế hoạch của cô bị phá nát bởi một gã thợ máy xa lạ, rồi cô cảm thấy cuộc đời mãi mãi dừng lại không thể tiến lên. Sự tương phản tâm lý của hai nhân vật khi đi vào cao trào hay cách họ giải quyết nó ở phần sau đều vô cùng tự nhiên. Với một bộ phim mà hầu hết thời lượng chỉ gồm hai nhân vật chính và một nhân vật phụ, sự thành công của Passengers phụ thuộc rất nhiều vào diễn xuất. Cả Chris Pratt lẫn Jennifer Lawrence đều thể hiện trọn vẹn nhân vật của họ, với diễn biến tâm lý cá nhân cùng sự ăn ý trên màn ảnh. Tuy nhiên, có lẽ do quá chú trọng vào câu chuyện cảm xúc của Jim và Aurora mà số nhân vật còn lại trở thành điểm trừ. Anh người máy bartender Arthur (Michael Sheen) là một nhân vật thú vị, như sự nhân hóa của cả con thuyền không gian nhưng được xây dựng không rõ ràng ở vài đoạn. Nam diễn viên Michael Sheen cũng ghi dấu ấn qua vai diễn người máy Arthur. Tuy chỉ là vai phụ, nhưng nhân vật của anh luôn khiến khán giả cảm thấy thú vị mỗi lần xuất hiện. Tương tự với Gus (Laurence Fishburne), nhân vật này đột ngột xuất hiện rồi đột ngột ra đi như một sự đuối sức của biên kịch trong việc liên kết những vấn đề của bộ phim, biến Gus trở thành một người vô cùng nhạt nhòa, thậm chí gây khó chịu trong toàn bộ tổng thể. Hình dáng của con tàu và nội thất – công nghệ bên trong nhìn cũng rất hay ho, không có cảm giác lặp lại nhàm nhàm như các phim khác. Đỉnh cao của phim là cảnh Aurora (Jennifer Lawrence) bị hút vào giữa quả cầu nước khổng lồ khi còn tàu mất trọng lực. Các đại cảnh vũ trụ cũng hiện lên kỳ ảo và đẹp mắt, trên phần nhạc nền do Thomas Newman biên soạn. Những ý tưởng về việc phân chia đẳng cấp hành khách khi chọn thức ăn hay những trò tiêu khiển trên chính con tàu vũ trụ là những điểm nhấn rất đặc biệt. Đoạn Jim và Aurora bay ngoài không gian hay lúc hai người ngồi ngắm vũ trụ qua lớp kính, bơi giữa bầu trời sao giống như sự đâm chồi uyển chuyển của tình yêu trong một câu chuyện mở đầu bằng sự nguy hiểm của vấn đề sinh tồn. Hình ảnh và những chi tiết sáng tạo nho nhỏ trong phim góp phần rất lớn trong việc cân bằng giữa tình yêu và sự sống còn, tạo được tổng thể dễ chịu, không điều gì bị lấn át. Passengers chung quy vẫn chỉ là một câu chuyện tình yêu. Nhưng cuộc đời luôn có những sự công bằng, chẳng ai biết được biến cố sẽ xảy ra vào lúc nào. Miễn là chúng ta đủ sức ứng biến, tin vào cảm xúc của mình thì bất cứ nơi nào cũng sẽ ngập tràn sự sống. Hãy như Jim và Aurora, họ đã tạo ra cả một thế giới xanh ngắt màu sống trong con tàu xám xịt lạnh lẽo đầy tính thương mại.

Assassin’s Creed

6930

“Assassin’s Creed” được hãng Fox thực hiện dựa trên nguyên tác trò chơi đình đám cùng tên, với hai ngôi sao Michael Fassbender và Marion Cotillard. Lấy cảm hứng từ các sự kiện và nhân vật lịch sử có thật. Với những fan của thương hiệu game này thì cuộc chiến truyền kỳ hơn vạn năm giữa hai phe Sát Thủ và Hiệp Sĩ vốn dĩ đã quá quen thuộc, và chắc chắn họ sẽ hiểu được những tình tiết ẩn chứa trong phim. Câu chuyện của Assassin’s Creed xoay quanh cuộc đối đầu định mệnh đã tồn tại suốt hàng trăm năm giữa hai kẻ thù truyền kiếp: Hội Hiệp sĩ Thánh chiến và Hội Sát thủ. Bộ phim lấy bối cảnh song hành giữa thế giới thực tại và quá khứ 500 năm trước. Assassin’s Creed được thiết kế, xây dựng và phát triển bởi một đội ngũ đến từ nhiều quốc gia khác nhau, với những đức tin và tôn giáo khác nhau… Tuy nhiên, với những người đi xem phim thông thường thì có lẽ họ sẽ gặp bỡ ngỡ đôi chút về sự thù hằn giữa hai hội này. Là tổ chức bí ẩn tập hợp những cá nhân ưu tú sở hữu quyền lực và địa vị cao trong xã hội, Hội Hiệp sĩ Thánh chiến mong muốn tạo ra thế giới lý tưởng không còn xung đột, bạo lực. Họ chủ trương thực hiện lý tưởng bằng sự cai trị tuyệt đối, sẵn sàng loại trừ bất cứ ai mang tư tưởng bất đồng, phản kháng. Cốt truyện mở đầu bằng vài dòng tóm tắt ngắn gọn lịch sử đối đầu giữa các Hiệp sĩ Thánh chiến (Knights Templar) và Hội sát thủ (Assassin’s Creed) trong nỗ lực đoạt lấy những miếng nhỏ của Trái táo địa đàng (Apple of Eden) – được cho là cất giữ hạt giống bất tuân đầu tiên của loài người. Tài tử Michael Fassbender vào vai Callum Lynch thời hiện đại, một tội phạm bị tuyên án tử bằng cách tiêm thuốc độc. Nhắm mắt xuôi tay và tưởng như cuộc đời đã kết thúc, Lynch bất ngờ tỉnh dậy giữa bốn bức tường xi măng xanh lạnh lẽo giữa trung tâm nghiên cứu đặt tại Madrid của tập đoàn Abstergo Foundation. Với sự thao túng của nhà khoa học Sophia Rikkin (Marion Cotillard), Lynch sử dụng một cánh tay máy giúp anh đi vào tiềm thức và kết nối với tổ tiên dòng họ. Từ đây, Lynch nhảy ngược về vùng đất khói lửa của Tây Ban Nha năm 1492, tham gia vào cuộc chiến ác liệt giữa hai thế lực không đội trời chung. Xuyên suốt lịch sử tồn tại, Hội Hiệp sĩ Thánh chiến không ngừng tìm kiếm Trái táo Địa Đàng. Với sự thao túng của nhà khoa học Sophia Rikkin (Marion Cotillard), Lynch sử dụng một cánh tay máy giúp anh đi vào tiềm thức và kết nối với tổ tiên dòng họ. Từ đây, Lynch nhảy ngược về vùng đất khói lửa của Tây Ban Nha năm 1492, tham gia vào cuộc chiến ác liệt giữa hai thế lực không đội trời chung. Trái ngược với Hội Hiệp sĩ Thánh chiến, Hội Sát thủ hoạt động với mục tiêu duy trì sự cân bằng của thế giới và tự do ý chí của loài người trước mưu đồ độc tài chuyên chế của Hội Hiệp sĩ. Chấp nhận ẩn mình trong bóng tối để hành động và phụng sự ánh sáng, Hội Sát thủ trở thành kẻ thù truyền kiếp, quyết không đội trời chung của Hội Hiệp sĩ. Callum sẽ được kết nối với cỗ máy Animus để “đồng bộ” với ký ức của tổ tiên mình năm 1492 để “giúp” một nhóm các Templar – ẩn thân dưới vỏ bọc là tập đoàn công nghệ Abstergo – tìm lại Trái Táo Địa Đàng. Truyền thuyết kể lại rằng, năm xưa người Isu từng chế tạo ra những thiết bị dùng để điều khiển tâm trí con người. Họ có lý tưởng rằng con người cần được cai trị và dẫn dắt để tránh được những cám dỗ và sự hư hỏng, nổi loạn, do đó các thiết bị đó được tạo ra để “thuần hóa” con người luôn ngoan ngoãn và Apple of Eden là một trong số đó. Sophia tin rằng Aguilar là người cuối cùng từng nắm giữ Quả táo, cũng như biết được vị trí mà trái cấm được cất giấu. Thông qua cỗ máy đặc biệt có tên Animus, Callum có thể tái hiện ký ức của tổ tiên được lưu trữ trong mã gien di truyền của bản thân, qua đó khám phá bí mật về dòng dõi sát thủ. Điểm cộng lớn nhất của Assassin’s Creed là phim truyền tải đầy đủ phần hình ảnh đẹp mắt của loạt game gốc bằng việc sử dụng phục trang, vũ khí cổ, thánh vật. Suốt thời lượng 116 phút, phim ngập tràn những cảnh binh biến, chiến đấu tay đôi, ám sát hay cuộc “tắm máu” giữa trung tâm tập đoàn Abstergo. Bộ phim Assassin’s Creed chưa thật sự hay nhưng không phải là một bộ phim dở (như rất nhiều reviewer nước ngoài gắn mác fan của game đã chê). Có thể nói, AC là một bộ phim giải trí xem được, vì đây chỉ là một góc nhìn khác của loạt game AC được chuyển thể thành phim và đưa lên màn ảnh rộng, không ảnh hưởng gì đến cấu trúc của loạt game trứ danh này. Có thể thấy phiên bản điện ảnh của Assassin’s Creed rất trung thành với nguyên mẫu trò chơi, đặc biệt là phần game đầu tiên ra mắt năm 2009. Cốt truyện chính cùng hệ thống nhân vật và sự kiện hầu như được giữ nguyên. Tác phẩm phần nào đưa người xem lạc vào thế giới của đức tin và vô thần, của luật lệ và tự do mà trung tâm là cuộc chiến truyền kiếp của hai phe Hiệp sĩ và Sát thủ. Nếu như phe Hiệp sĩ được coi là những người tiên phong đi tìm Trái táo địa đàng với niềm tin rằng thế giới chỉ có thể đạt tới sự ổn định nhờ cai trị, phe Sát thủ là những kẻ vô thần sống trong bóng tối, đặt niềm tin vào sự vô luật pháp, luôn tìm cách ngáng đường các Hiệp sĩ. Mỗi khi sát thủ Aguilar hành động sẽ có đồng đội hỗ trợ phía sau, là những cung thủ, hoặc là người cận chiến kế bên. Ngoài ra, các sát thủ có thể là bất cứ ai, kể cả 1 phụ nữ tưởng chừng như chân yếu tay mềm, và những tuyệt chiêu hạ gục đối thủ quen thuộc trong game cũng được thi triển trong phim rất nhiều lần. Điều đó giúp tạo ra sự nhất quán giữa thế giới của bộ phim với loạt trò chơi gốc, dù nó khiến cho sự phân bổ thời lượng giữa hai bối cảnh quá khứ – hiện tại trong game và phim có sự thay đổi và đảo ngược cho nhau. Ở cả trò chơi lẫn trên màn ảnh, các sự kiện và nhân vật chính thực tế chỉ tồn tại trong bối cảnh hiện đại. Nhờ không bị giới hạn về thời lượng, loạt game gốc kết nối vô số dữ kiện lịch sử và tôn giáo – từ thời kỳ Phục hưng, cuộc đại thanh trừng phù thủy cho tới nội chiến đẫm máu, tới cách mạng công nghiệp hay Thế chiến II. Ngược lại trong phiên bản điện ảnh chuyển thể chỉ gần hai tiếng, kịch bản cố gắng lồng ghép quá nhiều tình tiết lịch sử vào cốt truyện, để chiều chuộng fan game. Chúng ta cũng có thể thấy trên phim những màn công thành đầy khói lửa rất quen thuộc trong game AC. Người hâm mộ loạt Assassin’s Creed chắc chắn sẽ cảm thấy thích thú khi chứng kiến nhiều chi tiết đặc trưng của loạt game được đạo diễn Justin Kurzel đưa lên màn ảnh. Việc các Sát thủ phải chặt bỏ ngón tay áp út để có thể sử dụng lưỡi dao ẩn, hay nghi lễ vuốt mắt nạn nhân sau mỗi lần ra tay hành thích… đều xuất hiện. Michael Fassbender nhập vai tròn trịa khi cùng lúc đóng hai nhân vật – Callum Lynch ở hiện tại và ông tổ Callum Lynch (sát thủ Aguilar) ở quá khứ. Ở tuyến hiện tại, anh cho người xem thấy một tay sai phải ghìm nén giận dữ và bạo lực. Ngay cả trong những cảnh Lynch bị ảo giác và gần như hóa điên, người xem vẫn thấy được sự tiết chế có chủ đích của nam diễn viên người Đức gốc Ireland. Ở tuyến quá khứ, với sự giúp đỡ của các diễn viên đóng thế, nhân vật của Fassbender hoàn thành đẹp mắt các cảnh trốn chạy, ám sát, săn đuổi và đặc biệt cảnh nhảy mang tên Leap of Faith (Cú nhảy niềm tin) – thực hiện từ độ cao gần 40 mét. Không chỉ trung thành với nguyên mẫu trò chơi, bộ phim Assassin’s Creed còn đem đến nhiều cải biên đáng giá. Nhà sản xuất mạnh dạn xây dựng một tuyến nhân vật chính hoàn toàn mới, tương đồng về hoàn cảnh, chứ không sử dụng nhân vật sẵn có từ game một cách máy móc. Xây dựng câu chuyện của một nhân vật hoàn toàn mới giúp nhà sản xuất có thể tự do sáng tạo hơn, vượt ra ngoài những gì có sẵn trong trò chơi. Điều đó giúp bộ phim tránh khỏi những so sánh không cần thiết. Người đẹp Marion Cotillard cũng không thua kém đồng nghiệp khi vào vai con gái thông minh và quyến rũ của một chủ tập đoàn khoa học Abstergo Foundation. Ngoài tương tác với Michael Fassbender, mỹ nhân Pháp cũng diễn cặp với ngôi sao gạo cội Jeremy Irons (làm ông chủ tập đoàn Abstergo). Một điều đáng giá nữa đến từ cỗ máy Animus. Nếu như trong trò chơi, đây chỉ là thiết bị đơn điệu, có hình dạng như chiếc ghế, thì trên phim, nó “tiến hóa” thành hệ thống mô phỏng hành động phức tạp, hoành tráng và đầy sáng tạo. Nhờ đó, hiệu ứng truy hồi ký ức mà Animus đem đến cho khán giả ấn tượng và chân thực hơn rất nhiều so với những gì từng được thể hiện trong trò chơi. Chi tiết cải tiến đáng giá đến nỗi chính hãng Ubisoft cũng dành lời khen ngợi và cho biết sẽ xem xét đưa ý tưởng từ bộ phim vào các phần game tiếp theo.

Cheaper By The Dozen

4209

“Khi con thích một chàng trai, đừng bao giờ trở thành bất kỳ ai khác ngoài chính bản thân con…” Ở Việt Nam, chúng ta không xa lạ gì với những gia đình đông con. Thời nay do luật pháp giới hạn nên những gia đình như thế ít xuất hiện. Nhưng ở thời ông bà bố mẹ chúng ta đã sống, có những gia đình có dưới 10 người con còn bị cho là hiếm muộn. Nhưng ở Mỹ, gia đình nào có trên bốn người con thì gần như coi là sạt nghiệp. Bộ phim này có sự tham gia của Steve Martin trong vai Tom Baker, và Bonnie Hunt trong vai vợ của ông ấy, nữ nhà văn đã viết một cuốn sách bán chạy nhất về gia đình với 12 người con nhiều lúc khiến cuộc sống phát điên lên của họ. Bộ phim được lấy cảm hứng từ “Cheaper by the Dozen,” một tập truyện năm 1948 của Frank Bunker Gilbreth, Lillian Moller Gilbreth và 12 người con của họ. Chắc khó có ông bố nào vượt qua Tom Baker trong “Cheaper By The Dozen” về số lượng con. Với 12 đứa con, 12 tính cách, Tom Baker đã phải “oằn mình” chăm sóc cũng như hiểu được tâm lý của từng đứa. Tuy nhiều lúc phát điên vì sự nghịch ngợm, ương bướng… của mỗi đứa, nhưng chúng cũng đem đến nhiều niềm vui, hạnh phúc cho vợ chồng Baker. Dù đôi lúc gặp nhiều sóng gió, nhưng nhờ đó đã giúp gia đình Baker càng thêm hiểu và gắn bó với nhau hơn. Để rồi khi nhìn vào gia đình “đông con” này, nhiều người sẽ phải ghen tị. Thể loại : Hài hước, gia đình. Thời lượng : 98 phút. Công chiếu : 25/12/2003. Đạo diễn : Shawn Levy. Biên kịch : Sam Harper – Joel Cohen. Hãng sản xuất : Robert Simonds Productions – 20th Century Fox. Bộ phim đánh trúng vào tâm lý hiếu kỳ của khán giả và hốt bạc như điên, khi ca ngợi về một gia đình chẵn 12 người con. Dựa trên tập truyện bán chạy nhất vào năm 1940, “Cheaper by the Dozen” đã được dựng thành phim lần đầu vào năm 1950 và sau đó là lần thứ hai vào năm 2003. Ông bố Tom và bà mẹ Kate đã cùng nhau tạo ra 12 người con và chuyển về sống ở tỉnh Midland – Illinois. Ở đó gia đình Baker được mọi người thương mến. Tom là huấn luyện viên bóng bầu dục của trường trung học, rất thành công, và nhà trường còn chẳng cần đội cổ vũ vì đàn con của Tom dàn hàng ngang cổ vũ nhảy múa trên khán đài cũng đủ làm huyên náo cho khán giả. Kate thì là người phụ nữ đảm đang, không những đã quán xuyến chu đáo cho các còn, cô còn dư thì giờ viết cuốn hồi ký “Cheaper by the Dozen.” Khi cuốn sách hoàn tất, Kate gửi cho nhà xuất bản, chờ phản hồi phát hành. 12 người con của gia đình Baker, đến ông bố Baker đôi khi còn chẳng nhớ nổi tên. Nhưng giữa chúng nổi bật lên rất nhiều tính cách khiến cho khán giả có thể bị ghi dấu ấn và nhận biết ra các thành viên. Cô chị cả Nora đã có người yêu nên dọn ra ở riêng. Hai cậu út song sinh Nigel và Kyle Baker do hai anh em sinh đôi Brent và Shane Kinsman thủ diễn, khá kháu khỉnh và luôn làm trò vui cho cả nhà. Cậu con áp út tên là Mark, luôn mặc cảm vì lạc lõng giữa bầy anh em, và thường bị mọi người gọi tên FedEx và trêu rằng dịch vụ chuyển phát này đã đưa cậu tới đây nên cậu mới kỳ quặc như thế. Gia đình Baker đang sống yên lành ở Midland thì xảy ra một sự thay đổi lớn. Tom được mời làm huấn luyện viên cho đội bóng của trường đại học Northwestern tại Chicago. Đây là sự nghiệp lý tưởng dành cho Tom vì ông bố này luôn muốn được thi thố trong môi trường bóng bầu dục chuyên nghiệp. Ngoài tiền lương gia tăng gấp bội thì cả gia đình còn được cấp một căn biệt thư ba tầng trong khu thượng lưu của thành phố. Tom vào nhận việc trong trường với kỳ vọng đưa đội bóng lên hạng nhất. Chương trình tập luyện đang tiến triển thì lại có biến cố khác diễn ra, cuốn sách của Kate sẽ được phát hành với yêu cầu từ phía nhà xuất bản rằng cô phải theo một quá trình đi giới thiệu cuốn sách. Tom đã khuyến khích vợ đi, hứa hẹn sẽ chăm lo cho lũ nhóc. Từ đây, mọi sự việc rắc rối bắt đầu. Sự khác biệt của các con Tom khi chuyển tới trường mới khiến cho tâm lý của chúng trở nên bất ổn. Sự nghịch ngợm bản năng của trẻ con biến ngôi nhà họ đang ở thành tan hoang. Công việc thì lại yêu cầu của Tom quá nhiều thời gian. Mọi sự dần dần trở nên mất kiểm soát và bùng nổ. Nhưng cuối cùng, nhờ tình yêu, họ vẫn sửa chữa được tất cả. Cả gia đình vốn luôn yêu thương nhau lại tìm về với nhau, dùng tình cảm gia đình của họ để hàn gắn mọi thứ, đưa ra những quyết định đúng đắn, điều chỉnh tính cách và ngày càng gắn bó với nhau hơn. Trên hết, bộ phim này chan chứa tình yêu thương. Mà điển hình, yêu một người là khi bạn và người ấy có đến 12 đứa con mà vẫn yêu nhau như ngày đầu gặp gỡ. Những gánh năng mưu sinh nhiều lần khiến bạn đau đầu, nhưng bạn vẫn hy sinh nhận lấy nhiệm vụ chăm sóc những đứa trẻ để người ấy an tâm cho chuyến công tác đầu tiên sau ngày cưới. Trong khi miệng méo xệch vì lũ trẻ, bạn vẫn nói “Anh ổn, em yêu à” cho người ấy an lòng!

John Wick

4209

“Không phải việc con đã làm, con trai. Mà là con làm thế với ai.” Bộ phim đánh dấu sự trở lại thú vị và ấn tượng của ngôi sao hành động Keanu Reeves. Ra mắt khá lặng lẽ vào cuối tháng 10 năm 2014, ít được khán giả chú ý, nhưng có thể nói, John Wick là một trong hai bộ phim của Hollywood thú vị nhất trên màn ảnh rộng tại Việt Nam trong khoảng thời gian đó (cùng với Gone Girl). Cái tên tưởng như là một bộ phim hành động thông thường nhưng tác phẩm mới của ngôi sao “The Matrix” lại nhận vô số lời khen và số điểm cao trên các trang điện ảnh. Chiến dịch quảng bá trước khi bộ phim ra mắt không rầm rộ nhưng đến lúc chiếu rạp, John Wick bất ngờ nhận phản ứng tích cực từ giới chuyên môn và số điểm cao chót vót trên các trang phim. Mặc dù đóng rất nhiều phim trong sự nghiệp diễn xuất của mình nhưng tên tuổi của Keanu Reeves thực sự nổi danh qua những phim như Speed, Constantine, The Lake House, Street Kings, The Day The Earth Stood Still và đặc biệt là người hùng Neo trong bộ phim khoa học giả tưởng The Matrix. Vào năm 2005 diễn viên này từng được vinh danh tên tuổi của mình trên Đại lộ Danh vọng Hollywood. Tuy nhiên, đây cũng trở thành một tượng đài quá cao để tài tử có thể vượt qua, bởi suốt từ đó tới nay, chẳng nhân vật mới nào của anh có thể vượt qua được cái bóng của Neo. Một trong những lý do khách quan cho điều đó là bởi đa số các phim anh tham gia đều có kinh phí thấp, ít được quảng bá mạnh. Thể loại : Hành động, tội phạm, giật gân. Thời lượng : 101 phút. Công chiếu : 13/10/2014. Đạo diễn : Chad Stahelski. Biên kịch : Derek Kolstad. Hãng sản xuất : Summit Entertainment – Thunder Road Pictures. Nam tài tử Keanu Reeves đã có một vai chính thú vị và ấn tượng, không chỉ khiến các chàng trai ngả mũ thán phục vì những cảnh quay hành động bạo liệt mà còn khiến nhiều “fan girl” xiêu lòng vì sự lịch thiệp, nam tính trong phong cách diễn xuất của mình. John Wick là tên của một người đàn ông từng làm sát thủ trong quá khứ, nay đã về hưu. Sau cái chết bất ngờ của người vợ, John Wick nhận được món quà cuối cùng từ cô là một chú chó nhỏ giống beagle tên Daisy, và một lời nhắn xin anh đừng quên cách yêu thương. Nhưng sự đau buồn của John bị gián đoạn khi chiếc Boss Mustang 1969 của anh lọt vào tầm ngắm của tên côn đồ Iosef Tarasov (Alfie Allen). Cuộc đời của Keanu Reeves có rất nhiều biến cố thăng trầm và nhân vật John Wick có khá nhiều nét tương đồng với đời sống thực của diễn viên này. Chính vì thế khi hóa thân vào nhân vật của mình Keanu Reeves làm cho khán giả thật sự cảm nhận được sự trống trải và cô đơn trong con người này. John Wick là một sát thủ khét tiếng trong giới xã hội đen. Những kẻ trong nghề thường truyền tai nhau rằng: “Hắn không phải là ác quỷ. Hắn người được cử đi để giết ác quỷ”. Tên xã hội đen đã đến nhà John Wick, tấn công anh, cướp xe, giết chó. Và chính những điều đó đã làm trỗi dậy trong John Wick cái bản chất “ác quỷ” mà anh từng sở hữu trong quá khứ. Quá trình tìm kiếm chiếc xe bị đánh cắp đã đưa John tới một bộ mặt khác của thành phố New York, nơi mà những du khách chưa bao giờ biết đến, nơi tồn tại một tổ chức tội phạm siêu bí mật, siêu thực và cũng là nơi John Wick từng là kẻ xấu xa nhất. Sau khi biết được kẻ gây hấn là con trai duy nhất của người cộng tác cũ – trùm tội phạm người Nga Viggo Tarasov (Michael Nyqvist), John bắt đầu lên kế hoạch trả thù. Ngay từ những phút đầu tiên sắc phim đã đậm màu u tối. Góc quay, đồ vật, ngay cả trang phục của John Wick từ đầu cho đến hết phim là bộ suit đen ảm đạm. Trước tiên, John Wick chỉ là một tác phẩm hành động giải trí đơn thuần, chẳng đi tìm một giải thưởng điện ảnh danh giá hay muốn truyền đi bất cứ một thông điệp gì sâu xa. Xét trên tiêu chí ấy, bộ phim làm rất tốt. Cốt truyện của John Wick được kể theo lối tuyến tính khá bình thường, không mấy đặc sắc nhưng lại được nhấn nhá bởi rất nhiều chi tiết rất thú vị. Đạo diễn Chad Stahelski đã rất thành công khi kiến tạo được cho bộ phim một thế giới rất riêng và độc đáo, “không đụng hàng”. Khi nghe được tin kẻ sát nhân huyền thoại đang truy đuổi con mình, Viggo đưa ra một món tiền thưởng hào phóng cho người nào có thể bắt được John. Cùng với sự giúp đỡ của những người bạn lâu năm trong nghề, John một lần nữa trở thành cỗ máy giết người tàn nhẫn mà thế giới ngầm từng kinh sợ, phát động một cuộc chiến chống lại Viggo và những tên tay sai của hắn. Mặc dù nội dung của John Wick khá đơn giản, nhưng tốc độ phim nhanh và các tình tiết dồn dập khiến người xem luôn trong trạng thái thấp thỏm. Dù từ đầu đến cuối phim hầu hết là các cảnh bạo lực nhưng John Wick không hề gây ngán cho người xem mà ngược lại với hiệu ứng âm thanh tốt, góc quay rất đẹp dù cận cảnh hay ở khoảng cách xa. Các cảnh hành động của phim, dù với súng hay đánh nhau giáp lá cà, tuy không quá hoành tráng nhưng đều được xử lý cực kỳ trau chuốt, uyển chuyển. Trường đoạn hành động ấn tượng nhất của phim diễn ra trong vũ trường với hình ảnh đẹp mắt, đầy màu sắc, trên nền nhạc điện tử đầy kích thích. Từ những câu mật ngữ như “tôi muốn đặt bàn ăn tối” dùng để ám chỉ dịch vụ dọn xác cho đến “sáng chế” ra một khách sạn nơi chỉ dành cho các sát thủ với quy luật “không được giết người trong khách sạn”, những chi tiết ấy đều kích thích sự tò mò và hứng thú của khán giả đối với bộ phim. Xuyên suốt nội dung của John Wick, người ta gần như chỉ thấy nhân vật chính đi loanh quanh, lên kế hoạch rồi bắn giết, rồi lại đi loanh quanh, lại lên kế hoạch và bắn giết. Một cuộc chiến có thể sẽ là cái kết cho cả đôi bên. Khác với những phim bom tấn khác, các pha hành động thường là những cảnh nã súng đùng đùng vào đối phương hay hiệu ứng cháy nổ hoành tráng. John Wick là sát thủ một mình đối mặt với tất cả, phản ứng nhanh và bắn cực kỳ chính xác, gần như không có động có tác thừa. Đó là sự kết hợp của kỹ năng và mưu tính có chủ đích. Một điểm tích cực nữa là dù phim bạo lực nhưng đạo diễn Chad Stahelski không để lộ ra quá nhiều máu me, tránh việc gây ra phản ứng tiêu cực nơi người xem. Ở tuổi 50, Keanu Reeves vẫn chứng tỏ rằng mình vẫn còn sung sức khi đảm nhận những cảnh hành động phức tạp. Mọi hành động hay cảm xúc của nhân vật đều được lý giải một cách khá rõ ràng, trực diện. Nhiều người có thể thấy vô lý khi John Wick nỡ lòng ra tay xóa sổ cả một băng đảng chỉ vì một con chó, tuy nhiên, với những ai từng thấu hiểu được tận cùng cái nỗi đau của sự mất mát, sẽ cảm thấy có thể hiểu được. Cái hay của kịch bản mặc dù là một bộ phim thuần hành động nhưng với cách lồng ghép tình tiết thông minh kịch bản vẫn cho thấy tình cảm giữa con người luôn hiện hữu. Kịch bản được đẩy lên cao trào ngay từ những phút đầu và qua cách thể hiện của Keanu Reeves, John hoàn toàn làm cho khán giả đồng cảm với mình khi liên tục xem lại đoạn clip của người vợ quá cố. Tất nhiên, không chỉ có hành động, với một nhân vật phải thay đổi tâm lý rất nhiều lần: từ suy sụp, lấy lại chút tin tưởng rồi sau đó nổi điên vì hoàn toàn mất tất cả, anh đã hoàn toàn thể hiện xuất sắc. Hai cha con nhà Tarasov, tuyến phản diện chính của John Wick, cũng gây ấn tượng bằng những cá tính riêng. Trong John Wick, một con chó đôi khi không chỉ là một con chó, mà nó là đại diện cho những giá trị khác trong đời sống mà một khi đã mất đi, không sự bù đắp nào có thể thay thế được. Chính vì kịch bản khá đơn giản như vậy nên vai diễn này có lẽ không phải là một thách thức lớn của Keanu Reeves. Bên cạnh đó, cảnh quay John và chú chó quấn quýt như một người bạn làm xoa dịu nỗi đau trong John thể hiện sự cô đơn của nhân vật nhưng đồng thời cũng là một con người sâu sắc và nhiều tình cảm. Chính việc bị người ta hủy hoại niềm hy vọng và an ủi cuối cùng này làm nung nấu ý chí trả thù tới cùng. Nam diễn viên Alfie Allen từng được biết đến với diễn xuất trong Game of Thrones hoàn toàn thể hiện đúng hình tượng mà các nhà làm phim cần trong John Wick: một tên xã hội đen trẻ, ngông cuồng, không biết trời đất và chỉ biết gây rắc rối; Michael Nyqvist của loạt phim The Girl with Dragon Tattoo (bản Thụy Điển) và vai phản diện của Mission Impossible: Ghost Protocol vào vai ông trùm xã hội đen rất thành công: phong thái đĩnh đạc, giọng nói rất uy lực, điềm tĩnh và hành động với suy tính chín chắn, trái ngược hoàn toàn với đứa con trai ngu xuẩn. Bên cạnh đó sự lựa chọn cho tuyến nhân vật phụ bằng các tên tuổi lớn như Willem Dafoe , John Leguizamo, Ian McShane, Lance Reddick. Các vai diễn vẫn thể hiện được sự đặc biệt cho nhân vật của mình mà không làm loãng mạch phim. Điểm trừ lớn nhất của John Wick chính là 1/3 cuối phim cùng cái kết có phần hơi khiên cưỡng, không xứng đánh với tất cả những gì xảy ra trước đó. Tuy nhiên, điều này vẫn không gây ra quá nhiều ảnh hưởng cho tổng thể của bộ phim. John Wick nhìn chung là một bộ phim tròn trịa, đủ vị. Và quan trọng nhất, nó chứng tỏ được rằng Keanu Reeves vẫn chưa “hết thời”.

Collateral Beauty

5799

Chúng ta sẽ làm gì khi cuộc sống tươi đẹp xung quanh chúng ta bỗng chốc bị đổ sụp khi ta mất đi một trong những điều quý giá nhất trong cuộc sống này? Collateral Beauty được ra mắt vào dịp Giáng Sinh ở Mỹ, mùa lễ hội cuối năm nhộn nhịp nhưng ấm áp, với một không khí nhẹ nhàng và lãng mạn như nhiều bộ phim tình cảm khác của Hollywood. Con người thường có xu hướng hoài niệm những chuyện cũ, suy nghĩ về những chuyện đã qua. Collateral Beauty xoay quanh câu chuyện của Howard (do Will Smith thủ vai) – một chuyên viên quảng cáo sống thu mình với xã hội sau một biến cố đau thương. Từ một người đàn ông có tất cả: Gia đình, con cái, sự nghiệp, bạn bè… Bỗng chốc mọi thứ ngã đổ liên tục như những chuỗi domino trên bàn, anh mất đi cô con gái 6 tuổi của mình vì căn bệnh ung thư hiếm gặp. Sự góp mặt của dàn sao nhìn-là-muốn-xem dễ khiến khán giả nhớ lại những tác phẩm ấm áp ra mắt trong mùa lễ hội từng chinh phục hàng triệu trái tim như Love Actually hay The Holiday. Ngay từ khi mở đầu bộ phim làm khán giả xúc động bởi tình cha con. Chính thứ tình cảm to lớn ấy là khởi nguồn cho câu chuyện về sau. Cuộc sống mỗi người là những chuỗi domino được sắp xếp có trật tự và liên hoàn, cũng sẽ có những lúc bị đổ, nhưng đổ ở đâu và dựng lại thế nào, còn phụ thuộc vào chính chúng ta. Howard từng là một doanh nhân thành công của một công ty làm quảng cáo, là một người truyền cảm hứng cho các đồng nghiệp và bạn bè. Nhưng từ sau cái chết của cô con gái, Howard bắt đầu trở thành một kẻ mất hết niềm tin, lúc nào cũng u ám. Sau cú sốc tâm lý ấy, tất cả những gì tốt đẹp mà anh ấy từng nghĩ về thế giới này hoàn toàn sụp đổ. Mọi thứ đã thay đổi và đều trong tình trạng hỗn độn. Công ty đang xuống dốc và tất cả các mối quan hệ của anh với mọi người xung quanh đang trở nên tồi tệ. Anh tự giam mình và tách biệt với thế giới. Howard hầu như không có tâm trạng để nói chuyện và cái vẻ khắc khoải trên khuôn mặt khi đạp xe trên cầu Manhattan của anh ấy làm cho người xem ám ảnh. Hình ảnh đó cho chúng ta cảm thấy có một cái gì đó đã mất tích mà Howard đang cố gắng kiếm tìm.Howard viết thư cho Thời Gian, Cái Chết và Tình Yêu trong những lúc bí bách nhất, cô đơn nhất. Và rồi những Thời Gian (Jacob Latimore), Cái Chết (Helen Mirren), Tình Yêu (Keira Knightley) xuất hiện để đối thoại với anh, giúp anh tìm lại những giá trị quý giá bên cạnh. Ở khía cạnh khác, đây còn là câu chuyện về việc làm thế nào con người có thể vượt qua những nỗi đau không thể nói thành lời để tìm lại tình yêu, ý nghĩa của cuộc sống. Và những hi vọng và những sự việc tình cờ bỗng trở thành ngọn đuốc soi sáng cho chúng ta trong những giai đoạn đen tối nhất của cuộc đời. Khi thất vọng, buồn rầu hay suy sụp, bạn làm cho thời gian trôi nhanh hơn, vô ích hơn và tình yêu dần xa cách bạn, cái chết thì lại đến gần. Điều may mắn nhất là xung quanh ta còn những người bạn luôn vực ta dậy, giúp ta dựng lại những quân cờ “domino cuộc đời mình”. Collateral Beauty bắt đầu bằng những chi tiết rất thức thời như nghề nghiệp của Howard – agency quảng cáo, một nghề nổi trội hiện nay, – hay cách Howard viết thư cho những điều trừu tượng. Có vẻ như càng song hành với sự tiện nghi của thời đại và công nghệ, con người càng muốn tìm đến những điều mơ hồ và siêu thực. Với phần mở đầu hấp dẫn trong không khí giáng sinh, Collateral Beauty dường như đã nắm chắc phần thắng về một câu chuyện đẹp. Mỗi chúng ta hiện hữu đều có những sự kết nối vô hình với nhau. Bất luận bạn gặp ai, đó đều là người nên xuất hiện trong cuộc đời của bạn, và họ sẽ để lại những câu chuyện, những kí ức, những dấu ấn đẹp đẽ khiến bạn nhớ mãi. Và quan trọng hơn cả, chính những người bạn ấy sẽ là người sẽ cho bạn những lời khuyên chân thành, giúp bạn lấy lại niềm tin hơn khi vấp ngã. Bộ phim thuộc thể loại phim tâm lý, không phải dễ dàng để hiểu ngay từ đầu, nhưng lại khiến người xem buộc phải suy nghĩ, đọng lại và nhớ rất lâu. Ban đầu, Hugh Jackman được nhắm vào vai Howard nhưng vì không thỏa thuận được lịch quay mà cuối cùng thuộc về Will Smith. Thông qua những hình ảnh ấn dụ sâu sắc đầy nhân văn về Thời gian – Tình yêu – Cái chết, bộ phim Collateral Beauty – đã truyền tải những bài học về cuộc sống, chữa lành những tâm hồn đang tổn thương của chúng ta. Đạo diễn David Frankel tâm sự: “Chúng tôi thực hiện bộ phim này với mong muốn nhắc nhở mọi người hãy chú ý đến những điều tưởng chừng như nhỏ nhoi ở quanh ta, nhưng đó mới chính là những thứ làm cho cuộc sống này trở nên đáng sống hơn. Tôi không hi vọng mọi người đều cảm nhận được những ý nghĩa sâu sắc của: Tình yêu, Thời gian và Cái chết. Thay vào đó, tôi mong họ sẽ xúc động và suy nghĩ về những ảnh hưởng của chúng đối với cuộc sống của chính mình. Collateral beauty sẽ mang lại cho người xem một trải nghiệm điện ảnh đáng nhớ và sẽ có nhiều điều để nói về bộ phim sau khi rời rạp chiếu.” Những thước hình đẹp như mơ và tái hiện khung cảnh Giáng sinh ở Mỹ. Bên cạnh câu truyện chính, những thông điệp về sự chia sẻ cũng được thể hiện qua ba câu truyện nhỏ xung quanh ba người bạn của Howard. Ba nhân vật người bạn được tạo ra có dụng ý, cả những câu chuyện của riêng họ cũng rất hay và đồng điệu với nhiều vấn đề trong xã hội hiện đại. Đôi khi chúng ta phải nhận ra rằng khổ đau cũng là một bài học, cái chết cũng chính là một quy luật tự nhiên, chấp nhận cái chết, tự hàn gắn nỗi đau và hãy can đảm nhanh chóng vượt qua tuyệt vọng và khổ đau là những gì chúng ta cần làm để có thể thấy được những khía cạnh tươi đẹp khác của cuộc sống. Có thể thấy sự xuất sắc và tài tình của đạo diễn khi lồng vào đó một câu chuyện chính và 3 câu chuyện phụ xung quanh nhưng rất logic, gắn kết, ý nghĩa và không làm vỡ vụn tác phẩm. Thêm nữa, dù phải ghi hình tại Manhattan vài tháng sau Giáng Sinh, khiến đoàn phim phải xin phép nhiều hộ gia đình để trang trí lại nhưng cảnh trí vẫn cực kì thuyết phục. Nếu cần một bộ phim giúp bạn tìm cảm hứng tích cực hơn sau những vấp váp, đổ vỡ, thất bại mà mình đối mặt, hãy xem Collateral Beauty để thấy những lời khuyên ý nghĩa nhất cho chặng đường đời mà mỗi người đang đi, và từ đó yêu hơn và trân trọng hơn cuộc sống này, vì quá khứ là chuyện đã qua, hiện tại đang tiếp diễn và tương lai thì chưa biết tới.

Stand By Me ~ Hãy Ở Bên Tôi

4209

Một bộ phim hay và sống cùng năm tháng là một bộ phim mang đến cho người xem hoài niệm của chính bản thân mình. Một bộ phim của mùa hè, gợi nhắc những năm tháng đã qua, tạm bỏ đi những mối tình đầu thường tan vỡ và sến sẩm, đó phải là một bộ phim về tuổi trẻ, tình bạn, về những thứ đã cùng tuổi thơ lớn lên… Bộ phim Stand by me với diễn xuất tuyệt vời của huyền thoại bạc mệnh River Phoenix, là một bộ phim rất xúc động. Không chỉ là một thần tượng thiếu niên lớn, River Phoenix còn được xem là một trong những diễn viên tài năng nhất thế hệ 7X của Hollywood. PHỤ ĐỀ VIỆT NGỮ BỞI BEGOOD SUBBING TEAM Người ta tìm thấy mình trong nhân vật, tìm thấy một thời mà ta không thể quên, không muốn “bán” cho bất kỳ ai, một thời, mà ta coi là “di sản” để kể lại cho con cháu mình. Stand By Me – một bộ phim nói về những cậu trai 12 tuổi nhưng là để dành cho những người trưởng thành xem và suy ngẫm. Không chỉ kể lại một câu chuyện tuổi thơ, mà đó còn là hình ảnh trưởng thành của một thế hệ. Stand By Me thực sự là một quả bom vào mùa hè năm 1986. Câu chuyện phim bất tử theo năm tháng, khiến cho người lớn phải hoài niệm về tuổi thơ, khiến thiếu niên nhìn ngắm cuộc sống của chính mình trên phim ảnh. Thoạt nhìn vào phần tóm tắt nội dung của Stand By Me, chắc rằng có nhiều khán giả đã bỏ qua bộ phim xuất sắc này. Một bức tranh về những thiếu niên ở Mỹ đầu thập kỉ 60 đầy chân thực và để lại nhiều dư âm. Không chỉ là một trong những bộ phim thành công nhất của đạo diễn Rob Reiner chuyển thể từ truyện The Body của Stephen King, mà còn là một trong những phim kinh điển được cả giới teen lẫn người trưởng thành yêu thích cho đến tận ngày nay. Một nhóm bốn người bạn thân ở độ tuổi 12, chúng chia sẻ với nhau câu chuyện của mình, chia sẻ cuộc sống, chia sẻ điếu thuốc lá, những trò đùa nghịch dại dột. Và cả hành trình đi tìm… xác chết của một cậu bé khác bị tàu đâm. Chuyện phim chính là ký ức của một nhà văn trung niên về một cuộc phiêu lưu. Mỗi đứa một hoàn cảnh, một số phận, nhưng cuộc sống lại gắn chặt với nhau, không phải ở tại thị trấn nhỏ Castle Rock – Oregon, mà ở trong chính thế giới riêng của bọn chúng, thế giới chẳng ai có thể xâm phạm. Quả thật, cuộc hành trình trong phim cũng chỉ có thế, không hơn, nhưng chắc rằng, ai đã dấn thân vào cuộc phiêu lưu này, sẽ không bao giờ muốn quay trở lại nữa. Hành trình của bốn cậu bé đưa người xem trở về với những ký ức thời thơ ấu, rất quen thuộc đối với khán giả thế hệ trước. Gordie (Wil Wheaton) rụt rè và có vẻ yếu đuối, Chris (River Phoenix) mạnh mẽ, sống nội tâm và rất muốn che chở cho Gordie, Teddy (Corey Feldman) tâm lý thất thường, bị ám ảnh bởi hình ảnh người lính trong thế chiến thứ hai và cuối cùng là Vern (Jerry O’Connell) béo ú, vụng về, nói nhiều và hay bị bạn bè mỉa mai. Gordie mang trong mình sự tự ti và mặc cảm sau cái chết của anh trai tài giỏi. Anh trai quá giỏi giang là bi kịch của những cậu em trai. Cái chết của anh khiến Gordie nghĩ rằng, lẽ ra cậu phải chết thay anh ấy. Cậu sợ hãi ánh mắt của bố và sự im lặng của mẹ, những người luôn xem cậu là cái bóng của anh. Chris lại ở vào một tình thế khác, khi sống trong một gia đình bạo lực và côn đồ có tiếng. Dù rằng cậu rất tốt bụng và nhân hậu, nhưng Chris không tin mình có thể thành công, có thể thoát được cái “mác” gia đình đeo bám. Hai nỗi đau song hành cùng nhau trên một quãng đường. Các cậu bé tưởng tượng ra cảnh chúng sẽ trở thành người hùng trong mắt mọi người khi tìm ra xác chết mà các nhà chức trách cũng chưa thể xác định được. Khởi nguồn là một trò vui bồng bột của con trẻ, nhưng hành trình của các cậu bé 12 tuổi lại có ý nghĩa nhiều hơn thế. Cuộc phiêu lưu nho nhỏ ấy đã phơi bày con người, tính cách thật của 4 đứa trẻ, phơi bày tình bạn mà chúng dành cho nhau, và cũng là cuộc hành trình mà ở đoạn kết, là nơi chúng giã từ tuổi thơ ngây để thật sự đến với CUỘC ĐỜI. Bạn bè, không phải chỉ là cùng nhau đi chung một con đường, mà còn là cách người này bảo vệ, tương trợ người kia trước khó khăn, nguy hiểm. Bạn bè, không phải là chỉ là trò chuyện, lắng nghe, mà còn phải là người này nhìn thấu được người kia, chỉ ra thế mạnh và điểm yếu, động viên nhau trước mặc cảm tự ti hay những khi tuyệt vọng. Diễn xuất của Wil Wheaton (Gordie) và River Phoenix (Chris) cực kì xuất sắc, là linh hồn cả bộ phim. Hai tâm hồn yếu đuối ẩn mình dưới những vỏ bọc khác nhau, nhưng vẫn thể hiện được nội tâm và tính cách rất rõ. Gordie nhạy cảm và bốc đồng, kìm nén nỗi đau nhưng chực chờ để nổ tung. Chris dịu dàng và đầy quan tâm, một người anh cả của nhóm, nhưng luôn cam chịu với số phận. Chính hành trình này đã thay đổi cả hai cậu bé, và ảnh hưởng đến cuộc đời họ sau này. Cảnh nghỉ đêm trong rừng, khi Gordie và Chris thả trôi tất cả cảm xúc và sự chịu đựng, thực sự quá xúc động, nhờ vào diễn xuất tuyệt vời của hai diễn viên nhí tài năng. Những tâm hồn yếu đuối nương tựa vào nhau và trưởng thành hơn. Có những khoảnh khắc trong đời ta chẳng bao giờ có thể lấy lại được, cũng có những con người đã từng bước vào cuộc đời ta rồi ra đi vĩnh viễn. Có những người ra đi thật nhẹ nhàng, không khiến ta mảy may xúc động, nhưng cũng có những người khiến ta đau và ta biết ta sẽ nhớ họ, mãi mãi. Bởi thế, hãy trân trọng từng khoảnh khắc được sống của bạn, đặc biệt là tuổi trẻ, hãy kịp nhận ra và trân quý những mối quan hệ, những tình bạn khắc cốt ghi tâm, đừng để khi mất rồi mới biết là quý giá và tiếc nuối…

The Forger

4209

“Bố hy vọng là con không làm gì ngu ngốc để được về đây.” Thể loại : Tội phạm, kịch tính, giật gân. Thời lượng : 92 phút. Công chiếu : 12/09/2014. Đạo diễn : Philip Martin. Biên kịch : Richard D’Ovidio. Hãng sản xuất : Code Entertainment. Đây không phải là bộ phim về những siêu trộm gangster kiểu cổ của bố bạn. Cũng không phải bộ phim lấy nước mắt của mẹ bạn khi nói về hoàn cảnh của một gia đình mà người cha giữ mối liên hệ với câu con trai đang chết dần vì ung thư. Thay vào đó, đây là một kịch bản điện ảnh xuất sắc được viết bởi Richard D’Ovidio đã kết hợp được cả hai yếu tố trên để tạo thành một bộ phim nổi bật do Philip Martin đạo diễn. Bộ phim có kinh phí tương đối thấp này (11 triệu đô) đã thu hút được John Travolta, diễn viên đóng vai Ray Cutter, người cha có thể từng là một nghệ sĩ vĩ đại nhưng giờ tự thấy mình đang làm giả một bức tranh cổ điển. Bố của anh ấy là Joseph Cutter được hóa thân bởi diễn viên Christopher Plummer, một người ông già nua, khó tính, khôn ngoan mà, tự ông cũng biết vài điều về thế giới ngầm ở Boston. Thiếu niên là lý do khiến cha mình phải trở về để gần gũi quan tâm và giúp cậu sống cuộc đời ngắn ngủi của mình trọn vẹn hơn đã được diễn viên Tye Sheridan thể hiện cực kỳ tốt. Tất cả những ngôi sao này diễn vai của mình không thể tốt hơn được nữa. Ngôi sao thứ tư thật ra chính là Bảo tàng Nghệ thuật Boston khi đã cho phép bộ phim này được thực hiện tại đó để tạo ra tiền đề đem tới tính xác thực cho bộ phim. Nhân vật chính của phim là Ray Cutter (John Travolta) – người làm giả tranh nghệ thuật giỏi nhất thế giới, thỏa thuận với một tổ chức tội phạm để có được một lệnh ra tù sớm, nhưng đổi lại anh ấy phải thực hiện một vụ trộm bất khả thi – anh ấy phải làm giả một bức tranh của Claude Monet, ăn trộm bản gốc ở trong bảo tàng, và thay thế nó bằng bản được làm giả rất hoàn hảo mà không ai chú ý cả. Anh ấy có được sự giúp đỡ của cha mình (Christopher Plummer) và con trai (Tye Sheridan) và cùng nhau, họ lên kế hoạch cho vụ trộm để giành lại cuộc sống của mình ! “The Forger” theo cách nào đó là một bộ phim kỳ lạ. Cảm giác như nó cố gắng dồn tất cả các dòng phim vào làm một, từ giật gân, tới hành động, tới hài, và kịch tính. Tất cả ở trong đó nhưng dường như bộ phim chưa bao giờ mất thời gian tập trung vào từng dòng riêng biệt mà nó chắt lọc những tinh túy của từng dòng. Có một yếu tố kịch tính liên kết các đoạn phim lại với nhau đó chính là căn bệnh ung thư của Will Cutter, con trai của Ray. Yếu tố đó tạo ra ý nghĩa trong trạng thái của từng nhân vật, nguyên nhân của từng hành động, khiến cho các đoạn phim gắn kết trong một cảm xúc chung và tạo ra sự cân bằng đủ để khiến bộ phim trở nên đáng xem. John Travolta vẫn chứng tỏ được khả năng diễn xuất luôn được mong đợi. Trong từng đoạn phim, cách anh thể hiện cho thấy một nhân vật Ray Cutter với tình yêu thương vô bờ bến dành cho con trai, cho gia đình và cho nghệ thuật. Một nghệ sĩ thực thụ nhưng bị hoàn cảnh xô đẩy vào những tình huống trớ trêu, một người đàn ông luôn cố gắng tử tế và sống tử tế với mình và với người. Thật mừng khi thấy bậc thầy đã trở lại sau quãng thời gian vắng bóng trên màn ảnh và anh vẫn xuất sắc như đã từng.

Lion

7112

Phim Lion được dựa trên cuốn sách A Long Way Home, kể về câu chuyện có thật của một thanh niên tìm lại được gia đình ở Ấn Độ sau 25 năm. Như rất nhiều đứa trẻ sinh ra ở vùng nông thôn rộng lớn và nghèo khó của Ấn Độ vào thập niên 1980, Saroo (Sunny Pawar) chưa bao giờ có cơ hội tận hưởng cảm giác no đủ khi mẹ cậu phải một mình gánh vác ba đứa con nheo nhóc bằng nghề khuân vác trong các mỏ đá ở ngoại vi thành phố Khandwa. Cùng cậu anh Guddu (Abhishek Bharate), Saroo rong ruổi theo các cung đường sắt dài vô tận để ăn trộm than từ những chuyến tàu hàng, nhằm đổi lấy chút sữa, giúp đỡ người mẹ gầy guộc. Lúc năm tuổi, trong chuyến mưu sinh tại ga tàu hỏa cùng anh trai, cậu bé quê nghèo Saroo ngủ quên và bị đưa đến thành phố Calcutta cách đó 1.600 km. Từ đó, cậu phải vượt qua nhiều thử thách trên đường phố để sinh tồn trước khi được cặp vợ chồng người Australia nhận nuôi. 25 năm sau, khi đã trở thành một doanh nhân thành đạt, cậu vẫn mang trong mình khao khát tìm lại gia đình đã thất lạc và quyết tâm thực hiện điều ấy. Bộ phim “Lion” vừa được vinh danh tại Liên hoan phim quốc tế Hollywood tổ chức tại Carpi hôm 3/1 vừa qua. Theo đó, “Lion” thắng giải nhân đạo, diễn viên nam phụ xuất sắc, diễn viên nữ phụ xuất sắc, kịch bản xuất sắc và Giải thưởng hòa bình, vinh danh ca sĩ Sia, người thể hiện ca khúc “Never Give Up” trong phim. Cấu trúc tác phẩm chia làm hai nửa rõ rệt. Trong nửa đầu, phim phản ánh xã hội Ấn Độ nghèo khổ và phức tạp, gần giống Slumdog Millionaire (2008). Tương phản với các đúp quay rộng từ trên cao phô diễn vẻ đẹp thiên nhiên, cuộc sống của người dân hiện lên đầy khó khăn. Sự túng quẫn khiến những đứa bé như Saroo và anh trai phải đi mót đồ, ăn cắp để sống qua ngày mà chẳng thể tìm thấy tương lai. Cuộc sống vất vả là thế, nhưng Saroo chưa bao giờ cảm thấy buồn, bởi cậu bé có tình thương yêu của mẹ, của anh trai, và cả thiên nhiên rộng lớn của Ấn Độ để bầu bạn. Điều thiếu thốn duy nhất, trong mắt cậu, có lẽ chỉ là mấy chiếc bánh rán jalebi vàng óng ngoài chợ. Khi Saroo lạc đến Calcutta, cậu ngay lập tức lọt vào một thế giới hỗn loạn. Cảnh phim chuyển liên tục từ chuyến tàu đông đúc đến đường phố dơ bẩn, rồi khu đường hầm tăm tối tạo ra bầu không khí tuyệt vọng từ từ vây chặt lấy nhân vật. Bỗng dưng bị số phận đưa đẩy tới một thành phố xa lạ, nơi người dân thậm chí còn chẳng sử dụng thứ ngôn ngữ ở quê nhà, Saroo một mình đối mặt với muôn vàn khó khăn: từ những cơn đói triền miên, đến nỗi nhớ mẹ, nhớ anh trai da diết, và cả hiểm họa thường trực từ những kẻ lòng lang dạ thú muốn lạm dụng lũ trẻ ngây thơ như cậu. Trường đoạn ấn tượng nhất là khi Saroo chạy trốn bọn bắt cóc qua các đường hầm. Tiết tấu nhanh, dồn dập cùng tay máy rung lắc tạo ra chất kịch tính vượt khỏi tầm vóc một phim tiểu sử thông thường. Dĩ nhiên, giữa Calcutta đông đúc vẫn tồn tại những tấm lòng nhân hậu muốn giúp đỡ Saroo tìm về với gia đình. Nhưng tất cả những gì cậu có thể mô tả cho họ chỉ là Guddu – tên người anh trai, và “Ganestley” – tên ngôi làng nghèo quê hương nhưng chẳng thể tìm thấy ở bất cứ đâu trên tấm bản đồ Ấn Độ. Vận may cuối cùng đến với Saroo khi cậu cùng một đứa bé lang thang khác (Keshav Jadhav) được đôi vợ chồng người Australia là Sue (Nicole Kidman) và John Brierley (David Wenham) nhận làm con nuôi. Sau khi Saroo đến Australia sinh sống, mốc thời gian chuyển nhanh đến thời điểm 20 năm sau. Từ đó, phim chủ yếu xoay quanh sự khắc khoải của anh trên đường tìm về cố hương. Từ Calcutta chu du tới hòn đảo xa xôi Tasmania, Saroo Brierley (Dev Patel) lớn lên trong tình thương yêu hết mực của Sue và John, với ký ức tuổi thơ dần phai nhòa tới mức cậu chẳng còn thể nói được thứ tiếng mẹ đẻ Hindi. Dù lớn lên ở Australia, được học tiếng Anh và đã quên ngôn ngữ Hindi nhưng trong trái tim Saroo vẫn có sợi dây liên lạc mông lung với Ấn Độ. Nét lặp vòng trong câu chuyện phản ánh chủ đề chung về sự lạc lõng của nhân vật. Với sự động viên của cô bạn gái Lucy (Rooney Mara) và sức mạnh công nghệ từ phần mềm bản đồ Google Earth, chàng trai quyết tâm lần theo những mảnh vụn ký ức về cung đường định mệnh năm xưa, với hy vọng tìm thấy mẹ đẻ, tìm thấy anh trai, tìm thấy quê hương. Từng gây xôn xao dư luận ở cả Australia lẫn Ấn Độ hồi năm 2011, hành trình trở về của Saroo vừa là câu chuyện cảm động về tình cảm gia đình, vừa là bài học đậm chất nhân văn về sự sẻ chia và tình yêu thương vượt qua ranh giới địa lý, sắc tộc. Nếu khi xưa, Saroo là cậu bé nói tiếng Hindi lạc giữa cộng đồng nói tiếng Bengali, thì giờ đây, anh là chàng trai gốc Ấn mắc kẹt giữa thế giới hiện đại mà không biết mình thuộc về nơi nào. Nhịp phim chậm, nặng tính tâm lý là lối kể chuyện đặc trưng của đạo diễn Garth Davis trong nửa sau. Giành nhiều lời khen ngợi từ khán giả quốc tế và giới phê bình, cũng như nhận đề cử Phim truyện xuất sắc tại Oscar 2017, nhưng Lion có lẽ khó lòng lặp lại kỳ tích của tác phẩm cùng đề tài Slumdog Millionaire. Bộ phim quá tập trung vào việc mô tả diễn biến tâm trạng Saroo, khiến các nhân vật có số phận rất đáng chú ý khác như mẹ đẻ và cha mẹ nuôi của anh không được chú trọng đúng mức, dù tình yêu thương vô bờ bến mà họ dành cho con trai đóng vai trò hết sức quan trọng trong suốt cuộc đời nhân vật chính. Xen lẫn các phân đoạn Saroo tìm kiếm qua Google Earth là nhiều hình ảnh kết hợp giữa trí tưởng tượng và ký ức của nhân vật chính. Dù tình tiết khá đơn điệu với cái kết được dự đoán từ trước, phim vẫn gây xúc động trong cảnh chàng trai đoàn tụ với gia đình. Ngoại trừ diễn viên nhí Sunny Pawar và Dev Patel cùng khắc họa Saroo, dàn diễn viên phụ của Lion với những tên tuổi đáng chú ý như Nicole Kidman hay Rooney Mara không có nhiều đất diễn để thể hiện tài năng của họ. Thậm chí, ngay cả đối với Dev Patel, dù sự xuất sắc của anh trong Lion đã được tưởng thưởng bằng đề cử Oscar đầu tiên sự nghiệp, thì trạng thái trầm cảm xuyên suốt ở nửa cuối bộ phim của Saroo cũng giới hạn ít nhiều các cung bậc cảm xúc mà nhân vật của anh hoàn toàn có khả năng thể hiện. Trích đoạn Saroo với đôi mắt ngấn lệ được vây quanh bởi hàng chục dân làng trìu mến là cái kết viên mãn, gieo niềm tin cho hy vọng và tình yêu thương. Mãi đến lúc đó, Saroo mới biết anh mình đã chết do tai nạn ngay trong đêm định mệnh năm xưa. Cảnh hồi tưởng và tưởng tượng nên thơ cuối phim – hai cậu bé chạy trên đường sắt – như chất dẫn để Saroo của hiện tại kết nối với tuổi thơ thất lạc của mình. Tám năm sau Slumdog Millionaire, Dev Patel lại tìm thấy cho mình một vai diễn xuất sắc khác. Mang dòng máu Ấn Độ nhưng sinh ra ở Anh, nam diễn viên có đủ trải nghiệm để nhập vai một người Ấn lớn lên giữa thế giới phương Tây. Lối diễn tinh tế và chân thật của anh hòa quyện được cảm xúc hướng nội và bị ám ảnh bởi quá khứ của nhân vật. Trên tờ Variety, nam diễn viên chia sẻ đây là vai diễn cả đời mới có một lần của mình, và những nỗ lực của anh đã được công nhận bằng nhiều giải thưởng suốt từ đầu năm đến nay. Việc tuyển diễn viên nhí đóng vai Saroo lúc nhỏ là thách thức lớn nhất với đoàn phim. Trên tờ People, đạo diễn Garth Davis chia sẻ ê-kíp đã phải lùng sục khắp các trường học ở Ấn Độ và xem qua hơn 2000 cậu bé. Cuối cùng, họ tìm được Sunny Pawar, một bé trai lớn lên Mumbai và không hề biết tiếng Anh. Bước lên màn ảnh, diễn xuất của cậu bé là linh hồn của nửa đầu phim, chuyển đổi tự nhiên từ cảm xúc trong trẻo lúc đầu đến tia nhìn hoang mang khi bị tước đoạt khỏi người thân. Trong khi đó, “thiên nga Australia” Nicole Kidman tròn vai bà mẹ với triết lý yêu thương xuyên biên giới, hay giúp đỡ trẻ em bất hạnh. Ở ngoài đời, nữ diễn viên cũng nhận con nuôi nên dễ dàng chuyển tải những cung bậc tâm lý nhân vật. Tại lễ trao giải thưởng Oscar 2017, Lion nhận tổng cộng 6 đề cử cho Phim truyện, Nam diễn viên phụ (Dev Patel), Nữ diễn viên phụ (Nicole Kidman), Kịch bản chuyển thể, Quay phim và Nhạc nền trong phim xuất sắc. Chứng kiến hành trình đáng kinh ngạc, vượt qua khoảng cách không gian, thời gian, định kiến của Saroo để tìm lại tình cảm đích thực dành cho người thân, khán giả sẽ nhận ra rằng chẳng biên giới nào có thể ngăn cản con người đến với nhau một khi đã trao cho nhau niềm yêu thương chân thành. Do đó, tuy Lion còn nhiều khiếm khuyết, nhưng thông điệp giản dị mà đáng quý ấy vẫn giúp đây trở thành một trong những tác phẩm mang đề tài gia đình đáng nhớ của điện ảnh thế giới năm 2016.

Love Actually

8092

“Chỉ bởi vì là Giáng sinh thôi…” Bộ phim của đạo diễn Richard Curtis mang tới một thông điệp ý nghĩa trong đêm Noel: “Tình yêu chạm đến tất cả chúng ta”. Love Actually bắt đầu bằng cảnh ở sân bay Heathrow khi hàng trăm con người vô danh ôm chầm lấy nhau sau một thời gian xa cách. Giọng của nhân vật David, tân thủ tướng Anh vang lên: “Ý kiến chung cho rằng thế giới này đầy thù hận và tham lam. Nhưng tôi không thấy thế. Với tôi, dường như tình yêu ở khắp nơi. Thường thì nó không trang trọng lắm hay đáng lên mục tin tức nhưng vẫn có nó – Bố và con trai, mẹ và con gái, bạn trai, bạn gái, bạn bè cũ… Nếu chú ý, tôi có cảm giác bạn sẽ thấy rằng tình yêu thật sự đang ở quanh ta”. Chúng ta hãy đón xem Love Actually (2003) để cảm nhận vị ngọt ngào của những thanh chocolate “điện ảnh”, để bàn tay chạm đến bàn tay. Phim tập hợp một dàn các ngôi sao Anh quốc nổi tiếng: Hugh Grant, Martine McCutcheon, Liam Neeson, Colin Firth, Laura Linney, Emma Thompson, Alan Rickman, Keira Knightley, Bill Nighy, Rowan Atkinson. Love Actually có sự hiện diện của ít nhất 8 câu chuyện tình ở mọi cung bậc, sắc thái khác nhau. Khái niệm về “Tình yêu” trong Love Actually không chỉ giới hạn trong tình đôi lứa, đó còn là tình cảm gia đình, tình bạn bè, tình đồng nghiệp, tình người… 137 phút phim là 137 phút của sự ấm áp. Đây không phải một bộ phim bạn tìm thấy cao trào, những nút thắt, những cái kết bất ngờ, thậm trí bạn còn chẳng cần phải khóc. Nó đơn giản và nhẹ nhàng như cái cách chúng ta nhìn thấy nhau mỗi sáng và tự nhiên nở một nụ cười. Thể loại : Hài hước, tâm lý, lãng mạn. Công chiếu : 14/11/2003. Đạo diễn – Biên kịch : Richard Curtis. Hãng sản xuất : StudioCanal – Universal Pictures. Bộ phim đặt bối cảnh tại thành phố London, thời điểm 5 tuần trước Giáng sinh. Một nghệ sĩ Rock & Roll hết thời đang cố gắng quay trở lại sân khấu với sự hỗ trợ từ người quản lý lâu năm. Một nhà văn quay trở về nhà phát hiện ra bạn gái đang ngoại tình với chính em trai ruột của mình. Một đôi trẻ mới cưới và chuẩn bị đi trăng mật. Cùng lúc đó, một người chồng nghẹn ngào nói những lời vĩnh biệt trong đám tang người vợ. Ở một nơi khác, một cặp diễn viên đóng thế cảnh sex đang làm quen với nhau. Một gã lập dị làm việc ở cửa hàng ăn uống thất bại hết lần này đến lần khác trong việc tán tỉnh phụ nữ. Một vị Thủ tướng vừa nhậm chức, phải lòng người giúp việc của mình trong khi chị ruột anh ta phải đối diện với cuộc hôn nhân nguội lạnh. Một phụ nữ yêu đơn phương anh chàng đồng nghiệp hơn hai năm trời nhưng chẳng dám ngỏ lời… Mạch phim có độ liên kết logic, dễ dàng chạm tới tình yêu sâu thẳm trong tim mỗi người. Điều góp phần làm nên thành công lớn cho Love Actually trong kỹ thuật dựng phim đó là âm nhạc. Người xem có dịp thưởng thức những ca khúc về tình yêu, về giáng sinh năm mới bay bổng, du dương và sôi nổi như: To lost in you, Christmas is All Around, Wherever You Will Go. Đây đều là các tác phẩm âm nhạc kinh điển được cải biên cho phù hợp với nội dung phim. Để tái hiện bức tranh cuộc sống, đạo diễn kiêm biên kịch Richard Curtis chọn nhân vật từ nhiều tầng lớp, giai cấp khác nhau. Có những người ở tầng lớp thượng lưu như David, Thủ tướng Anh; có những người ở tầng lớp dưới như Colin, người phục vụ hay John và Judy, những diễn viên đóng thế cảnh sex. Bộ phim có nghệ sĩ (ca sĩ Billy Mack, nhà văn Jamie, nghệ sĩ đương đại Mark), có doanh nhân (Harry – quản lý một công ty thiết kế), có chính khách (Thủ tướng Anh David), có người lao động… Hệ thống nhân vật đa dạng như vậy nhằm khẳng định một điều: “Tình yêu chạm đến tất cả chúng ta, bất kể chúng ta làm gì và ở đâu”. PHỤ ĐỀ VIỆT NGỮ ĐƯỢC THỰC HIỆN VÀ CHIA SẺ MIỄN PHÍ BỞI BEGOOD SUBBING TEAM. VUI LÒNG KHÔNG SAO CHÉP HOẶC SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI. Tất cả nhân vật trong từng câu chuyện của Love Actually đều liên hệ với nhau theo một cách nào đó. Họ có thể là chị em một nhà, là bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm hoặc “người quen của người quen”. Thành phố London rộng lớn trên bản đồ nhưng chỉ bé bằng quả cam nếu xét theo những mối liên hệ. Nếu không có những sự liên kết kỳ diệu ấy, Love Actually sẽ chỉ là những mảng rời rạc, vụn vỡ và không thống nhất. Tiếp theo đó là bối cảnh, những cảnh quay tập trung chủ yếu tại thành phố London, những khung cảnh lãng mạn, tươi đẹp, sôi động như công viên giải trí, tòa nhà quốc hội, sân bay quốc tế Heathrow…. đều thể hiện một khía cạnh nào đó của cuộc sống nơi thủ đô hoa lệ của vương quốc Anh. Những góc quay tình cảm ở cự ly gần, kể cả những màn ôm ấp say đắm của những đôi yêu nhau đều được tận dụng triệt để. Đạo diễn Richard Curtis luôn kèm một chút bi trong những phim hài của mình. Love Actually được dán nhãn là phim hài tình cảm song vẫn có những giây phút cay đắng, buồn bã. Bộ phim truyền đi thông điệp “Tình yêu quanh ta” song đó không phải là thứ tình yêu dễ dàng, nằm sẵn trong hộp quà chờ đợi người mở. Những nhân vật trong phim không thụ động chờ tình yêu tự đến với mình. Đôi khi họ lạc lối, đôi khi họ để vuột mất tình yêu nhưng họ vẫn không ngừng hy vọng và cố gắng. Kết thúc phim có những người hạnh phúc bên nhau, có những người vẫn lẻ bóng một mình nhưng không ai thấy hối tiếc vì họ đã can đảm theo đuổi tình yêu đến cùng, bất chấp kết quả thế nào. Để truyền tải thông điệp “Tình yêu quanh ta”, một số câu chuyện trong Love Actually, nếu xem xét kỹ, còn gượng gạo và khiên cưỡng. Tuy nhiên, đây là bộ phim đặc biệt dành cho Giáng sinh và vào Giáng sinh thì người ta muốn tin vào ông già Noel cùng những điều kỳ diệu. Love Actually thỏa mãn mong ước chính đáng đó. Đây là kiểu phim có thể khiến khán giả thực sự cảm thấy hạnh phúc cho đến khi chìm vào giấc ngủ. Chừng nào đồ ngọt vẫn còn được yêu thích thì những bộ phim ấm áp như Love Actually vẫn tìm được chỗ đứng vững chắc trong tim khán giả.

Pretty Woman

7177

“Em muốn một câu chuyện cổ tích…” Năm 1990, Pretty Woman ra mắt đã tạo nên cơn sốt. Tác phẩm là bộ phim tình cảm – hài hước bán ra lượng vé cao nhất ở thị trường Mỹ từ trước đến nay. Không chỉ thành công về mặt thương mại khi thu về hơn 460 triệu đô trên toàn thế giới, phim còn nhận được nhiều đánh giá tích cực từ giới phê bình lẫn người yêu phim. Bộ phim tạo một bước ngoặt cho sự nghiệp của Julia Roberts. Thời lượng : 119 phút. Công chiếu : 23/03/1990. Đạo diễn : Gary Marshall. Biên kịch : J.F.Lawton. Hãng sản xuất : Touchstone Pictures. Pretty Woman xoay quanh chuyện tình giữa Edward Lewis và Vivian Ward. Trong khi Edward là doanh nhân thành đạt thì Vivian lại là cô gái đứng đường bị người đời khinh rẻ. Người ta thường bảo tình yêu là hai người cùng bù trừ cho nhau, có lẽ thượng đế cũng nghĩ như vậy nên ông đã cho nàng Vivian Ward (Julia Roberts) lên chiếc xe đi tạm của chàng Edward Lewis (Richard Gere) vào cái đêm chàng đi lạc trong cái thành phố mà nàng đã quá thân quen. Edward trả tiền chỉ để Vivian ở lại chia vui cùng mình những ngày tẻ nhạt và đi cùng anh gặp gỡ các đối tác. Một cô gái gọi thú vị, có lẽ chàng Edward đã nghĩ như thế trước khi mời nàng vào khách sạn cùng chàng. Nhưng nàng còn hơn cả thú vị, nàng là cơn lốc, cuốn chàng ra xa khỏi vùng an toàn. Trước khi gặp nàng, cuộc sống của chàng vốn rất nhanh và hối hả. Rồi thì nàng đến, mọi thứ chậm lại. Nàng cho chàng biết rằng nằm trên cỏ lại rất thanh bình, đồ ăn lại rất ngon, rằng nụ cười của nàng vô cùng sống động. Có thứ gì đó trong chàng nay đã thức tỉnh. Chàng nay nhìn mọi người khác đi và nàng cũng khác đi. Một món hời, có lẽ nàng đã nghĩ thế khi lên xe của chàng. Vẫn nghĩ thế khi vào khách sạn cùng chàng. Nhưng nàng nào biết Edward lại là một món hời khác thường. Người đàn ông ấy tràn đầy quyền lực và quyến rũ nhưng lại phảng phất sự cô đơn và nỗi buồn. Chàng đánh thức giấc mơ nhỏ bé trong nàng. Mà sau những cuộc tình tan vỡ nàng đã chôn vùi thật sâu. Nay vì một Edward quá khác thường nàng lại mơ mộng. Rồi họ phải lòng nhau. Tình yêu đích thực chớm nở giữa hai con người không cùng đẳng cấp. Sau cùng, họ dành cho nhau tình cảm chân thành ngay giữa lòng Hollywood phù hoa. Pretty Woman vẫn luôn là bộ phim truyền cảm hứng, đặc biệt là với nữ giới. Từ đó, những cô gái trẻ luôn tin vào sức mạnh của tình yêu và lấy những tính tốt của Vivian làm kim chỉ nam cho lối sống. Dĩ nhiên, nếu có thể, những tính tốt của Vivian không tính đến nghề nghiệp của cô ấy. Nguyên tác của Cinderella bị phá vỡ. Ở Pretty Woman là câu chuyện cổ tích thời hiện đại và nàng lọ lem đến từ đường phố. Thay vì lấy bối cảnh xa xưa cùng phục trang cổ điển, phim lại đặt chuyện tình của Edward và Vivian vào những năm 90 của thế kỷ trước. Điều này tạo cảm giác gần gũi cho người xem, khiến họ tin tưởng đâu đó trên thế gian chuyện tình như thế có tồn tại. Không chỉ sở hữu chuyện tình dễ thương, Pretty Woman còn gây ấn tượng bởi hình ảnh đẹp đẽ. Đây là điều dễ hiểu khi bối cảnh chính của bộ phim là những địa điểm quen thuộc của giới thượng lưu như khách sạn, nhà hàng, trường đua ngựa… Những bộ cánh sang trọng mà Edward và Vivian vận cũng khiến người xem trầm trồ. Hơn tất cả, thành công của Pretty Woman phải kể đến đóng góp của Richard Gere và Julia Roberts. Edward Lewis của Richard Gere với vẻ ngoài lịch lãm đã khiến trái tim cả triệu cô gái đập loạn nhịp. Còn Julia Roberts, vai diễn cô gái điếm Vivian thành công đến nổi Viện hàn lâm đã trao cho cô đề cử Oscar ở hạng mục Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Với Pretty Woman, một lần nữa sức mạnh của tình yêu được khẳng định. Đôi tình nhân yêu nhau vượt qua tất cả, phá bỏ rào cản sẵn có của định kiến. Tình yêu của họ chiến thắng nỗi sợ hãi, vươn lên trên sức mạnh của đồng tiền. Không chỉ đơn thuần về tình yêu, Pretty Woman còn là phim về văn hóa, thời trang, tình bạn, sự ga-lăng đàn ông và bản năng người phụ nữ. Ngay ở Vivian cũng tồn tại hàng loạt mâu thuẫn quyến rũ. Bề ngoài phóng đãng nhưng bản chất thánh thiện, gái làng chơi mạc hạng có lòng tự trọng cao ngút trời, vòi tiền từ khách hàng nhưng lại không mặc sức tiêu hoang, đanh đá mà dễ tổn thương. Với diễn xuất xuất sắc của Julia Roberts, cô gái điếm Vivian đã để lại ấn tượng khó phai trong lòng người hâm mộ. Không quá khi khẳng định, Pretty Woman là phim mà người trẻ, đặc biệt là nữ giới đều đã xem hoặc nên xem ít nhất một lần trong đời. Pretty Woman sẽ mãi là bộ phim truyền cảm hứng. Những cô gái có thể chưa gặp và mãi mãi không gặp Edward Lewis của cuộc đời, nhưng nàng nhất định phải tự trọng và vô tư yêu thương bản thân như chính “người đàn bà đẹp” Vivian Ward.

The Zookeeper’s Wife

7587

The Zookeeper’s wife là bộ phim mới nhất về chủ đề diệt chủng người Do Thái trong thời Đức quốc xã. Dù chưa phải là một tác phẩm xuất sắc, nhưng bản thân chất liệu có thật đã đủ sức làm lay động người xem. Bộ phim dựa trên cuốn tiểu thuyết của Diana Ackerman kể câu chuyện có thật về cuộc giải thoát hàng trăm người tị nạn Do Thái của những người chủ vườn thú Warsaw là Jan và Antonina Zabinski trong cuộc xâm chiếm của Đức quốc xã trong Thế chiến II. Khi Đức quốc xã bắt đầu tàn phá Ba Lan – và trước nguy cơ vườn thú Warsaw bị đe dọa – vợ chồng nhà Zabinski bắt đầu chuyển lén những người Do Thái vào những chuồng thú trống và cuối cùng cũng đưa được khoảng nửa tá người về được nhà trong khoảng thời gian đầu tiên. Nữ chính trong phim là Jessica Chastain từng có những vai diễn khó quên trong Interstellar hay The Martian cũng như đã từng nhận đề cử Oscar cùng những màn trình diễn xuất sắc trong The Help và Zero Dark Thirty. Chính Antonina Żabińska đã mạo hiệm cuộc sống của gia đình để bảo vệ lý tưởng, nỗ lực của cô đã đưa cô thành vị anh hùng cứu hàng trăm mạng người trong Thế chiến II. Việc chuyển thể một tác phẩm văn học nổi tiếng thành phim đã không còn là điều quá xa lạ với các khán giả cũng như nhiều hãng phim lớn ở Hollywood. Thậm chí, xu hướng này còn đang ngày được ưa chuộng hơn bởi lẽ việc phát triển một kịch bản có sẵn từ những tiểu thuyết đã chứng minh là có sức hút sẽ giúp cho các dự án phim trở nên “ít mạo hiểm” hơn. Là một trong những bộ phim độc lập thành công nhất nửa đầu năm 2017, The Zookeeper’s Wife là phim của nữ đạo diễn người New Zealand Niki Caro (tác giả bộ phim nữ quyền Whale rider – 2002). Có lẽ góc nhìn từ một người phụ nữ trong cuốn tự truyện cùng với bàn tay của một nữ đạo diễn khiến bộ phim thấm đẫm màu sắc nữ tính, giàu tính nhân bản, nhưng đồng thời cũng đánh mất phần nào sự khốc liệt và dữ dội cần có của một bộ phim về đề tài diệt chủng. Vốn là một câu chuyện mang đậm màu sắc chiến tranh và đượm tinh thần nhân văn, The Zookeeper’s Wife được kỳ vọng sẽ mang đến được cho khán giả những khung hình đầy ắp cảm xúc và hứa hẹn sẽ làm khán giả phải rơi nước mắt. Đặc biệt, sự góp mặt của ngôi sao Jassica Chastain trong vai nữ chính càng làm cho sức nặng của tác phẩm thêm phần mạnh mẽ. Bộ phim mở đầu với những hình ảnh tuyệt đẹp khi đặc tả những chi tiết trong vườn thú Warsaw – một trong những vườn thú lớn và phong phú nhất ở châu Âu những năm 1930. Ở đó, tiến sĩ Jan Zabinskin (diễn viên Phần Lan Johan Heldenbergh đóng) và vợ ông là Antonina đang tận hưởng những ngày tháng hạnh phúc nhất. Họ yêu nghề, yêu công việc và yêu những con thú như thành viên trong gia đình. Antonina chăm sóc những con thú như chăm sóc những đứa con của cô, ngay cả những con thú dữ tợn nhất. Con trai nhỏ của cô thì quấn quýt và thậm chí còn đi ngủ với một chú thú cưng trên giường. Nhưng những cảnh bình yên và hạnh phúc đó kéo dài không lâu khi Chiến tranh thế giới thứ 2 bắt đầu nổ ra, Đức xâm chiếm Ba Lan và những trận bom bắt đầu ném xuống thủ đô của Ba Lan. Focus Features, hãng phim thực hiện và phát hành loạt phim 50 Shades Of Grey, cũng chính là nhà sản xuất chính thực hiện tác phẩm này. Vườn thú Warsaw tan tác, nhiều con thú bị giết chết và phá cổng chạy rông trên đường phố. Những cảnh tang thương và nguy hiểm khiến tiến sĩ Jan khuyên vợ và con nên dời đi chỗ khác, nhưng Antonina không thể bỏ lại vườn thú nên quyết định ở lại. Giữa thời điểm căng thẳng và nguy hiểm đó, tay chỉ huy vườn thú Berlin, tiến sĩ Lutz Heck (diễn viên Đức Daniel Bruhl đóng) – “nhà động vật học của Hitler” – xuất hiện và ra lệnh giải thể vườn thú Warsaw, bắn chết những con thú và chỉ giữ lại giống bò quý mà hắn ta muốn nhân giống. Gia đình tiến sĩ Jan không muốn rời xa vườn thú đã gắn bó với cả cuộc đời, họ xin Heck giữ lại vườn thú để làm trại nuôi heo, cung cấp thịt cho lính Đức quốc xã. Nhưng thực chất là để họ thực hiện một sứ mệnh vừa cao cả vừa nguy hiểm: cứu và che giấu những người Do Thái bị Đức quốc xã đưa đến các Ghetto để giết chết. Đó cũng là lúc câu chuyện chuyển hướng sang một màu sắc khác và có thể bóp nghẹt trái tim người xem bởi sự căng thẳng lẫn hồi hộp vì chỉ cần một sơ sẩy nhỏ, không chỉ hàng trăm mạng người Do Thái bị giết chết mà ngay cả gia đình Jan và Antonina cũng khó bảo toàn tính mạng. Rất nhiều chi tiết trong phim có thể làm tan chảy trái tim người xem bởi lòng nhân từ cao cả của Antonina. Tiến sĩ Jan liều lĩnh đến các trại tập trung để cứu giúp những nạn nhân mà ông qua mắt bọn bảo vệ rằng họ là những tiến sĩ động vật học. Số nạn nhân được giải cứu tăng lên mỗi ngày, cũng đồng nghĩa với sự nguy hiểm rình rập họ, nhất là mỗi khi tay tiến sĩ Heck xuất hiện. Tính chất tự truyện của tác phẩm gốc khiến bộ phim chuyển thể có được những chất liệu sống động dựa trên các chi tiết có thật của lịch sử. Tuy nhiên, những thế mạnh này từng được khai thác trong các bộ phim về đề tài diệt chủng Do Thái trước đây, từ kiệt tác Schindler’s list (1993) của Steven Spielberg đến The Pianist (2002) xuất sắc của Roman Polanski và nhiều phim khác. Một ẩn dụ khác vốn là thế mạnh và được đánh giá cao trong tác phẩm của Diane Ackerman là “vườn thú – người”, khi bà mô tả thân phận của những con người, những nạn nhân sống dưới tầng hầm vườn thú cũng không khác gì những con thú bị loài người nhốt giữ. Điểm sáng lớn nhất của bộ phim chính là diễn xuất của Jessica Chastain. Jessica Chastain còn bỏ ra vài tháng luyện trọng âm của người Ba Lan cho vai diễn của mình.

Southside With You

5040

Công chúng thế giới đã có nhiều dịp được thấy Tổng thống Mỹ Barack Obama và Đệ nhất phu nhất Michelle Obama cùng nghe nhạc, cùng khiêu vũ. Giờ đây, chúng ta có thể biết được buổi hẹn hò đầu tiên của Barack và Michelle, thấy được tổng thống Mỹ tương lai tán tỉnh cô bạn gái như thế nào trong bộ phim Southside With You. Những yếu tố chính trị, định kiến và lãng mạn hội tụ vào ngày hẹn hò đầu tiên của cặp đôi đáng mến Barack và Michelle Obama, được gói gọn trong bộ phim ‘Southside with You’ từng tham gia Liên hoan phim Sundance 2016. “Những nhân vật đối mặt với nhau xuất phát từ ý nguyện chân thành, để rồi bày tỏ những cảm xúc của mình cách trang trọng và đầy nhiệt huyết” – Tika Sumpter và Parker Sawyers nói về Southside with You. Công chiếu hôm 24/1 trong khuôn khổ Liên hoan phim Sundance (Mỹ), phim lãng mạn độc lập – Southside With You – được người xem và giới chuyên môn đón nhận nồng nhiệt. Tờ Vanity Fair ca ngợi: “Câu chuyện về buổi hẹn hò đầu tiên hay nhất trên màn ảnh”. Bộ phim lấy bối cảnh mùa hè năm 1989 khi lần đầu tiên Barack Obama, 28 tuổi đi chơi với nữ luật sư 25 tuổi Michelle Robinson đến từ Chicago. Nữ diễn viên Tika Sumpter – người đóng vai Michelle chia sẻ: “Những điều bạn thấy trên phim là những lúc họ tranh luận và thách thức lẫn nhau. Từ khi bước vào cuộc sống của nhau, hai người đã nói rất nhiều chuyện về gia đình của mình, nó thật sự rất thực tế và dễ tiếp cận với bất kỳ khán giả nào”. Sau nhiều giờ bên nhau, mặc dù ban đầu Michelle khăng khăng đây không phải là một cuộc hẹn hò, hai người đã tham dự triển lãm nghệ thuật Ernie Barnes, dự một cuộc họp cộng đồng và xem phim Do The Right Thing của đạo diễn da màu Spike Lee, cùng uống rượu và ăn kem khi họ chia sẻ với nhau về hoài bão, nỗi sợ hãi và cuộc sống của mình. Năm 1992, Barack và Michelle kết hôn, ba năm sau cuộc hẹn hò đầu tiên. Một cô gái tuổi đôi mươi đang chuẩn bị ra ngoài. Cha mẹ cô trêu chọc khi cô cố chỉnh lại mái tóc trong gương. Có phải cô đang hẹn hò? Không đâu, sẽ có một sinh viên luật trường Harvard sắp đưa cô đến dự cuộc họp hội đồng nhân dân để thảo luận về “những vòi nước bị hỏng và những ngôi trường thiếu hụt ngân sách”. Phía bên kia thị trấn, một người đàn ông áo ba lỗ vừa hút thuốc vừa nói chuyện điện thoại với cô mình và nói, “Dạ vâng, cô ấy là người da màu.” Barack đã gặp Michelle lần đầu trong hoàn cảnh đó, và Southside with You sẽ kể lại cho bạn câu chuyện tình độc nhất vô nhị này. Cây viết Todd McCarthy của The Hollywood Reporter bình luận: “Bộ phim thông minh, dịu dàng và chân thực về ngày hẹn hò đầu tiên của hai sinh viên xuất chúng khoa Luật năm 1989”. Tờ MTV nhận xét: “Tác phẩm độc lập kiểu Before Sunrise kể chuyện tình chớm nở trong một buổi chiều của hai sinh viên Harvard một cách duyên dáng. Trong phim, người xem thấy phiên bản thời trai trẻ, quyến rũ và hay nói tục của Tổng thống thứ 44 nước Mỹ”. Nhịp điệu của bộ phim diễn tả đúng tính chất mối quan hệ của hai người: lịch sự và luôn vui tươi. Những người dân da đen ở Southside Chicago đã hoàn thành xuất sắc “nhiệm vụ” là bối cảnh nền cho câu chuyện tình lãng mạn này. Parker Sawyers, nam diễn viên lột tả chân dung Barack Obama trong phim, nói ban đầu anh cố gắng làm sao có được ngoại hình và phong cách giống với Obama trong quá trình nhập vai, nhưng sau đó anh để cho thần thái và cách ăn nói của nhân vật đến một cách tự nhiên. Michelle đã cảm nhận được khả năng lãnh đạo của vị Tổng thống tương lai khi Barack đưa cô tới một cuộc họp của cộng đồng nhằm tìm cách xây dựng một trung tâm dành cho người trẻ. Daily Beast khẳng định khán giả hãy xem phim để biết Barack Obama “cưa đổ” Đệ nhất phu nhân chỉ trong sau một ngày hẹn hò như thế nào. Diễn xuất của hai diễn viên chính được khen ngợi. Barack Obama luôn được công chúng dành nhiều sự ngưỡng mộ không chỉ vì sự mẫu mực của một nhà lãnh đạo mà còn bởi những hành động đầy tình cảm của ông dành cho người vợ và hai người con gái của mình. Phim còn mô tả hai người đi xem phim Do The Right Thing. Họ đã nắm chặt tay nhau, đồng cảm với nhau như thế nào khi xem cảnh một người đàn ông da màu chết sau khi bị một cảnh sát da trắng kẹp cổ từ phía sau như thế nào. Nam diễn viên Parker Sawyers tái hiện ông Barack Obama chân thực tới cả cách bước đi và điệu cười nhanh nổi tiếng. Tika Sumpter diễn vai bà Michelle Robinson hồi trẻ tự tin, quyết đoán, biết quan tâm người khác. “Họ cùng chứng kiến những gì xảy ra ở Chicago. Rõ ràng ở Chicago, vấn đề giữa công chúng và cảnh sát vẫn là tin tức được quan tâm nhiều và Tổng thống vẫn phải xử lý những chuyện đó hàng ngày” – theo ca sĩ kiêm nhà soạn ca khúc John Legend, người đảm nhiệm vai trò nhà sản xuất điều hành phim. Đến đón nàng bằng chiếc xe tồi tàn của mình, hóa ra họ sẽ không chỉ gặp nhau có vài giờ. Barack từng ngỏ lời hẹn hò Michelle khá nhiều lần, nhưng vì vẫn là cố vấn cho chàng trong công ty, nàng luôn ngần ngại. Một số người có thể nghĩ việc chàng kiên trì theo đuổi không phù hợp với môi trường làm việc cho lắm, nhưng lý do Michelle từ chối lại khá thực tế: nếu cô, một người phụ nữ da màu, cặp kè với người đàn ông da màu đầu tiên mình gặp ở văn phòng, thì không ai có thể ngăn chặn miệng lưỡi thế gian đàm tiếu về họ. Chúng ta sẽ sớm nhận ra rằng bộ phim này không đề cao sự nhẹ nhàng hay tinh tế. Southside with You là phim đầu tay của đạo diễn sinh năm 1985 – Richard Tanner. Đạo diễn kiêm biên kịch cho biết mặc dù phim hư cấu, anh nghiên cứu kỹ thực tế ngày hẹn đầu tiên của vợ chồng Barack Obama qua sách và báo. Phim đã nhận được sự phản hồi tích cực tại LHP Sundance. Tika Sumpter vừa là nhà sản xuất, vừa đóng vai nữ chính trong phim chia sẻ: “Tôi hơi hồi hộp khi mới nhận vai Michelle Obama – Đệ nhất phu nhân mà ai cũng muốn trở thành”. Để chuẩn bị cho vai diễn, cô đọc thơ và nhiều cuốn sách để hiểu hơn về tâm lý cũng như tâm hồn một con người như bà Michelle. Những nhân vật trong phim đều đối mặt trực diện và lao vào nhau bằng sự chân thành, dõng dạc nói lên những cảm xúc của họ như đang đọc một lời tuyên thệ. Nhưng nếu làm quen được với những đài từ “kiểu cách” của phim, bạn sẽ bị ấn tượng bởi những bài phát biểu đầy sức nặng. Tika Sumpter cho biết vợ chồng Barack Obama chưa xem nhưng tỏ ra hào hứng với tác phẩm mới. Khi đề cập đến vị Tổng thống thứ 43 của nước Mỹ, phải công nhận rằng, sự tồn tại của bộ phim trở nên khá kỳ cục, dù những nỗ lực không ngừng nghỉ của phía cánh tả nhằm hạ bệ người đàn ông này, ai cũng phải công nhận tình yêu của họ là chân thành. Nhưng Southside with You rất quyến rũ, và bạn có thể thấy lý do tại sao đám đông ủng hộ Obama vui mừng khi nhìn thấy một Michelle lộng lẫy, xinh đẹp đang ngồi xoa kem dưỡng da vào chân trong khi chờ một Barack cao lêu nghêu, hút thuốc lá và nghe bài hát Miss You Much của Janet Jackson khi anh lái ngang qua thị trấn để gặp cô ấy. Những chi tiết như thế này mang biểu tượng nhân văn đến với người xem một cách hấp dẫn nhất. Nhưng nếu bộ phim thành công, chính bởi vì các “nhân vật” trên màn hình không giống như bất cứ ai khác ngoài đời – họ là cặp đôi Obama quyền lực, quen thuộc song không thể nắm bắt được.

Big Eyes

6344

“Những bức tranh này là một phần của con người em, có lẽ em có thể tự ký tên lên chúng.” Có lẽ không ai nghĩ sẽ có lúc đạo diễn nổi tiếng Tim Burton lại làm phim tiểu sử, cho đến lúc Big Eyes được ra mắt. Bộ phim là sự kết hợp tuyệt vời của một câu chuyện có thật gây chấn động và phong cách độc đáo có một không hai của “huyền thoại” Hollywood. Các nhà làm phim tài năng tại Hollywood nhiều vô số kể. Người thành công trong môi trường giải trí khốc liệt đó cũng không thiếu. Nhưng tạo được dấu ấn riêng với một phong cách đặc trưng thì không phải ai cũng làm được. Đây không phải là một phim mới nhưng có thể nói là một bộ phim đại diện thành công cho phong cách đầy biến hóa của vị đạo diễn cá tính này. Bộ phim lấy nguồn cảm hứng từ câu chuyện của Keane – một nghệ sĩ nổi tiếng với những tác phẩm tranh gây tiếng vang hồi thập niên 50 thế kỉ trước – tuy nhiên những tác phẩm của ông đều do Margaret vợ ông sáng tác. Thể loại : Tiểu sử, tội phạm, tâm lý. Thời lượng : 106 phút. Công chiếu : 15/12/2014. Biên kịch : Scott Alexander – Larry Karaszewski. Hãng sản xuất : Electric City Entertainment – The Weinstein Company. Nhà sản xuất của hàng loạt những tác phẩm điện ảnh ma mị nổi tiếng như Alice in Wonderland, Corpse Bride, The Nightmare Before Christmas,… đã làm người yêu phim ấn tượng với một bộ phim tiểu sử vô cùng đặc biệt. Câu chuyện có thật về nữ hoạ sĩ Margaret Keane và những bức tranh em bé mắt to kỳ lạ khiến cho giới chuyên môn phải nói đùa rằng thế giới điện ảnh của Tim Burton cuối cùng đã “lớn”. Khởi đầu sự nghiệp từ giữa thập niên 80 của thế kỷ trước, cho đến nay, sau 30 năm làm nghề, Tim Burton có thể coi là một tượng đài. Phim của ông đều mang phong cách nhất quán, có phần “dị”, từ mặt hình ảnh, màu sắc, nhân vật cho đến phần thiết kế mỹ thuật. Nhưng tóm lại, các tác phẩm được cộp mác Tim Burton dù hay hay dở thì đều nằm trong list nên-xem-một-lần bởi vì sự lạ và dị. Bộ phim lấy bối cảnh nước Mỹ những năm 1950, mở đầu bằng cảnh Margaret – một phụ nữ vừa ly dị chồng đưa con gái bé bỏng Jane đến North Beach, San Francisco sinh sống. Từ “thôn quê” ra “thành thị”, một người mẹ đơn thân như cô hoàn toàn choáng ngợp và không có một nghề nào trong tay. Margaret và Keanes gặp gỡ rồi kết hôn với nhau. Họ dần dần trở nên nổi tiếng với những bức tranh vẽ trẻ em với đôi mắt lớn. “Là em Em đã sai Khi tin tưởng anh Em đã thấy Những điều em muốn, Điều gì không có thật? Em có sai khi tiếp tục như một đứa trẻ ngốc? Thật tuyệt vời Việc mà một người phụ nữ đang yêu Sẽ làm…” – trích lời bài hát “Big Eyes” – Lana Del Rey. Margaret là một hoạ sĩ vô cùng tài năng, với phong cách riêng biệt là những em bé với đôi mắt to ma mị, thế nhưng cô rất yếu đuối và hầu như không có cơ hội phát triển trong một xã hội trọng nam khinh nữ lúc bấy giờ. Walter lại là một người có tài ăn nói khéo léo cùng cái đầu ranh mãnh, đã giúp Margaret đưa những tác phẩm của mình trở nên nổi tiếng toàn thế giới. Oái oăm thay, Walter đều tự nhận những bức tranh này do chính mình sáng tác. Margaret rất tổn thương nhưng cô không có đủ can đảm để lên tiếng cũng như không thể nổi tiếng trong xã hội trọng nam khinh nữ thời kỳ đó. Sau khi hai vợ chồng ly dị, Margaret cố gắng giành lại quyền làm chủ những tác phẩm của mình. Đỉnh điểm của cuộc chiến giữa hai người là trong phòng xử án năm 1986. PHỤ ĐỀ VIỆT NGỮ ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI BEGOOD SUBBING TEAM. VUI LÒNG KHÔNG SAO CHÉP HOẶC SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI. Khán giả có thể dễ dàng nhận thấy phong cách ma quái vừa thu hút vừa có chút ghê rợn làm nên thương hiệu Tim Burton qua những bức tranh Mắt to xuất hiện xuyên suốt bộ phim. Những đôi mắt mở to kỳ lạ này cũng đã góp phần tạo nên những cảm giác tò mò lôi cuốn cho bộ phim. Tim Burton thường sử dụng 2 tone màu hoàn toàn trái ngược nhau. Hoặc là vô cùng u ám, tăm tối (Sweeney Todd, Sleepy Hollow) hoặc là màu sắc rất rực rỡ, hút mắt (Big Fish, Charlie And The Chocolate Factory). Phim Big Eyes được xây dựng theo cách thứ hai. Tuy nhiên, đúng như phong cách của Tim Burton, nhiều phân cảnh ma quái được lồng ghép khéo léo vẫn khiến khán giả nhiều lần thót tim như cảnh Margaret ngồi vẽ với từng lớp lớp những đứa trẻ mắt to rũ rượi nhìn cô chằm chằm. Hay ghê nhất là cảnh cô mường tượng những vị khách trong siêu thị mang đôi mắt to đáng sợ đang nhìn cô. Bằng câu chuyện riêng của cuộc đời Margaret, bộ phim đã tái hiện lại những thước đo giá trị và nét văn hoá đặc trưng trong nghệ thuật, thẩm mỹ của những năm 50s. Sự chân thật sống động mà vẫn đậm chất giải trí của Big Eyes đến từ phong cách làm phim uyển chuyển mềm mại cùng phần lời thoại vô cùng thú vị. Bên cạnh phong cách nghệ thuật đặc trưng mà Tim Burton thổi vào bộ phim, lối diễn tuyệt vời của bộ đôi Amy Adams, Christoph Waltz càng khiến Big Eyes thêm phần sinh động. Nhờ vai diễn Margaret Keane, Amy Adams đã có giải Quả cầu vàng thứ hai liên tiếp và đề cử giải Oscar thứ 5 trong sự nghiệp. Sự chuyển biến nội tâm của Margaret từ một người phụ nữ yếu đuối cả tin và có phần mơ mộng thành một người phụ nữ mạnh mẽ, dám đấu tranh và sống vì đam mê của mình đã được Amy Adams tái hiện thành công. Đặc biệt không thể không kể đến nam diễn viên Christoph Waltz đã hoá thân khá xuất sắc vai gã hoạ sĩ giả hiệu Walter Keane. Tài biến hoá khôn lường từ một người đàn ông có nụ cười ấm áp toả nắng làm tan chảy trái tim mọi phụ nữ, một hoạ sĩ đầy đam mê khi nói về các bức tranh rồi dần trở thành một kẻ nói dối chân thật cho đến khi lộ nguyên hình là một tay họa sĩ giả hiệu, một người chồng tráo trở và vô liêm sỉ, một con người hèn nhát và bệnh hoạn rất hợp lý và xuất thần. Phim cũng có nhiều lời thoại mang tính châm biếm và ẩn dụ sâu cay về trào lưu thưởng thức tranh chạy theo phong trào của người dân thời đó. Nhờ vậy, không cần bi kịch hoá cốt truyện, bộ phim vẫn lột tả mạnh mẽ tư tưởng trọng nam khinh nữ, thói quen thưởng thức nghệ thuật theo trào lưu vốn gây nhức nhối những thập niên cũ. Kịch bản bộ phim cũng gây ấn tượng với sự chuyển biến tinh tế trong tâm lý nhân vật. Đây là một thành công lớn và có lẽ cũng chính là yếu tố mang đến cảm giác “trưởng thành” trong phim của Tim Burton khi các tác phẩm nổi tiếng của Tim vốn yếu thế trong khâu xây dựng tâm lý nhân vật. Tuy chưa thật hoàn mỹ nhưng Big Eyes vẫn là một tác phẩm lý thú, rất đáng thưởng thức. Một chi tiết vô cùng thâm thúy và đầy mỉa mai trong bộ phim là khi công chúng không đủ tiền mua tranh các em bé mắt to của Keane, họ bắt đầu sưu tập các…tờ rơi in tranh và Keane phấn khích khi nhận ra gã có thể làm giàu bằng cách bán các tờ giấy vụn in tranh với giá 1 xu nhanh hơn là bán tranh thật! Nói chung, Big Eyes là một bộ phim nhẹ nhàng, tạo hình tuyệt đẹp đúng phong cách bồng bềnh tươi tắn, vàng óng kiểu Marilyn Monroe mà vẫn mang mác phong cách quái quái của Tim Burton không thể nhầm lẫn với những bãi biển xanh siêu thực, những bức tranh đậm không khí quỷ dị, những nhân vật có tính cách quái đản. Chắc rằng ngoài Tim Burton, sẽ không ai mang lại cho chúng ta một bộ phim tiểu sử với phong cách nghệ thuật độc đáo kỳ dị đến vậy. Cũng có ý kiến cho rằng, đây chính là tác phẩm chân thành và mang tính cá nhân nhất của Tim. Và đặc biệt là những đôi mắt dị thường ma quái như xoáy sâu vào tận sâu thẳm nội giới của người đối diện. Đôi mắt ở đây không đơn thuần là một điểm nhấn cho bộ phim mà còn trở thành biểu tượng về nhân sinh quan. Big Eyes nói lên tiếng nói của những nghệ sĩ nữ nói riêng và giới nghệ sĩ nói chung về sự bất công trong lao động cũng như sự khó khăn trong việc bảo vệ thành quả lao động ấy. Điểm yếu của bộ phim có lẽ nằm ở chính thể loại của nó, vì là phim tiểu sử, với yêu cầu tôn trọng sự thật nên bộ phim sẽ làm thất vọng những khán giả mong đợi một diễn biến cao trào vô cùng gay cấn giật gân. Tuy vậy, sự bất ngờ và những tình tiết thú vị gài gắm suốt từ đầu đến cuối bộ phim chắc chắn sẽ không khiến bạn phải nhàm chán.

The Invisible Woman

6686

“Hãy luôn luôn đội chiếc vương miện vô hình của bạn…” Bộ phim có tựa đề bí ẩn “The Invisible Woman” xoay quanh cuộc đời của Đại văn hào Charles Dicken do Sony Pictures Classsics đồng sản xuất với sự tham gia của Ralph Fiennes trong vai trò đạo diễn kiêm diễn viên nam chính, bên cạnh các gương mặt nổi tiếng khác như Felicity Jones, Kristin Scott Thomas và Tom Hollander. Đại văn hào Charles Dickens, nhân vật chính của bộ phim (do Ralph Fiennes vào vai) với những tác phẩm lừng danh trên toàn thế giới như “Oliver Twist”, “David Copperfield”, “A Tale of Two Cities”, “Great Expectations”, hay “A Christmas Carol”. Tất cả những tác phẩm này đều đã được chuyển thể lên màn ảnh rộng đồng thời tạo nên nguồn cảm hứng cho vô vàn bộ phim khác trong lịch sử. Nhưng mấy ai biết rằng, Charles Dickens còn có một cô nhân tình bí mật tên là Nelly Ternan (Felicity Jones thủ vai) trong suốt 13 năm cho đến tận ngày ông qua đời. Thể loại : Tiểu sử, tâm lý, lịch sử. Thời lượng : 111 phút. Công chiếu : 31/08/2013. Đạo diễn : Ralph Fiennes. Biên kịch : Abi Morgan. Hãng sản xuất : Headlines Pictures – Sony Pictures Classics. Khi bộ phim bắt đầu, chúng ta được xem từ thời điểm “Margrave, 1883”, nơi chúng ta thấy Ellen và chồng cô George ngồi cùng với vài gia đình bạn bè, Ellen được yêu cầu kể về những ký ức “trẻ con” cô có cùng Charles Dickens. Bộ phim sau đó chuyển tới thời điểm “Manchester, nhiều năm trước”, nơi chúng ta được biết khi ông đang cố gắng biến cuốn sách “The Frozen Deep” của mình thành một vở kịch trên sân khấu. Sau đó nhà Ternan tới, người mẹ và hai cô con gái của bà, tham gia vào vở diễn. Một trong số những người con gái, Ellen (Nelly), chỉ mới 18, thu hút được sự chú ý của Dickens ngay lập tức (đã kết hôn, và hơn cô ấy 20 tuổi), và sự tìm hiểu giữa họ dần dần diễn ra. Điều gì sẽ trở thành sức hút giữa hai con người trong xã hội thời kỳ Victoria khi luật lệ rất hà khắc ? Bộ phim nhiều hình ảnh này được diễn giải như một hồi ức, dao động giữa thế giới riêng và thế giới được phô bày ra với cả xã hội của Dickens. Tựa phim đề cập tới Nelly, một người hâm mộ đầy khao khát, khi cô ấy dần dần tiến vào mối quan hệ ngoại tình với thần tượng của mình. Cô dành những năm tháng tuổi trẻ đẹp đẽ nhất của mình bên nhà văn, nhưng vì Dickens lớn tuổi hơn cô ấy rất nhiều, nên cô ấy biết rằng mình sẽ là người đưa tiễn ông đi trước, và vì thế, cô ở lại, phải tiếp tục cuộc đời mình, trong khi nhớ nhung và khắc khoải khôn nguôi với phần quá khứ tươi đẹp nhất, đau đớn nhất, dị thường nhất trong cuộc đời, với người đàn ông cô kính trọng, tôn thờ, yêu thương và chia sẻ hết được cùng cô những cảm xúc mà không ai có thể. PHỤ ĐỀ VIỆT NGỮ ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI BEGOOD SUBBING TEAM. VUI LÒNG KHÔNG SAO CHÉP HAY SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI. Michael O’Connor là cái tên không còn xa lạ trong giới thiết kế trang phục phim vì ông từng một lần giành Oscar trong ba lần đề cử, với bộ phim The Duchess vào năm 2009. Với thế mạnh về trang phục của quý tộc châu Âu giai đoạn cận đại, O’Connor đã thổi hồn vào rất nhiều tác phẩm như Jane Eyre, The Last King of Scotland, Dredd…và lần này là một câu chuyện tình đậm chất cổ điển của thế kỷ 19 chính là The Invisible Woman. Câu chuyện trải dài từ những năm 1830 đến thập niên 1850, một khoảng thời gian mà theo O’Connor là đã có sự tiến bộ về thời trang. Tuy nhiên, theo ông, khó khăn nhất lại là việc đưa hình ảnh nữ diễn viên Felicity Jones cùng các nhân vật nữ hiện đại về đúng thời kỳ đó, phải thiết kế sao cho họ sang trọng, quý phái nhưng vẫn phảng phất nét “xưa cũ” và “già đi khoảng 20 tuổi”. Vì thế, sự nền nã của các quý bà trung niên đã được thể hiện qua những bộ váy màu xanh rêu, xám tro hoặc xanh biển rất tối, trong khi các cô gái trẻ hầu như chỉ dùng màu hồng và xanh pastel. Họa tiết chỉ cần xếp ly, thêu ren, đắp hoa, nơ và ruy băng tinh tế là tuân thủ đúng với xu hướng thời trang thời bấy giờ. Chỉ đứng sau The Great Gatsby về mức độ được kỳ vọng, The Invisible Woman cũng đã nhận được một đề cử dành cho Bộ phim có Phần Thiết kế Trang phục Xuất sắc nhất. Trước tiên, bộ phim này ghi dấu sự nỗ lực của Ralph Fiennes khi vừa diễn xuất và đạo diễn cả bộ phim. Sự thể hiện nhân vật Charles Dickens của ông tràn đầy năng lượng. Thật tuyệt khi thấy Dickens đã thành công đến như thế nào trong thời đại của ông, nhận được rất nhiều sự mến mộ vào thời kỳ đó. Thứ hai, màn trình diễn của Felicity Jones trong vai Ellen quyến rũ từ đầu cho tới cuối. Cô là diễn viên thực lực của nền điện ảnh Anh quốc nhưng lại chưa được biết đến nhiều, và màn trình diễn này đã thay đổi tất cả. Thứ ba, bộ phim đã tạo ra được một không khí tuyệt vời và dẫn dắt người xem đi theo diễn biến tâm lý của hai nhân vật, từ những ấn tượng đầu tiên họ dành cho nhau, sự đồng cảm trong tâm hồn để có thể dễ dàng chia sẻ cùng nhau những cảm nghĩ trong văn học và về cuộc đời, những cảm thông của gia đình và sự yêu thương mà họ dành cho nhau, những định kiến của xã hội tưởng như có thể cướp đoạt tình yêu trong mỗi con người, những ngày tháng hạnh phúc êm ả và lung linh, những đám đông ngưỡng mộ và một nhà văn say mê hào quang, những đau đớn không thể nói thành lời vì sự che giấu và vì sự chia sẻ người đàn ông của mình với thế giới, những day dứt nhớ thương mối tình và bóng hình cũ, những khắc khoải vì tình yêu không được thể hiện. Tại một thời điểm trong phim, Dickens yêu cầu Nelly chia sẻ một bí mật với ông, và cô nói rằng tên đêm của mình là “Lawless”. Khi cô yêu cầu nhận lại một bí mật từ Dickens, ông thì thầm rằng “Ellen Lawless Ternan… đó là bí mật của ta”, một câu thoại đắt giá của bộ phim. Đơn độc trong suy nghĩ của mình, những ngày tháng sau này, Ellen chỉ mặc đồ đen, và thường đi dạo rất nhanh bên bờ biển trong nỗ lực rũ bỏ những nỗi nhớ quay quắt về quá khứ. Và cuối cùng, bằng cách kể ra bí mật đời mình với một người cùng yêu thích văn học của Dickens và hoàn toàn không phán xét, cô đã có thể khép lại chương cũ trong đời để bước sang một chương mới tươi sáng hơn.

Four Weddings And A Funeral – Bốn Đám Cưới Và Một Đám Ma

7071

Tại sao tôi luôn đến dự các lễ cưới mà chưa bao giờ thật sự kết hôn nhỉ, Matt? Có lẽ bởi vì cậu hơi lôi thôi một xíu đấy. Hài hước và lãng mạn, “Four Weddings and a Funeral” của đạo diễn Mike Newell là bộ phim không thể bỏ lỡ cho những đôi tình nhân trước thềm mùa cưới. Ý tưởng bộ phim xuất phát từ việc tác giả kịch bản, Richard Curtis, tìm lại những cuốn nhật ký cũ và phát hiện ra ông đã tham dự 72 đám cưới trong 10 năm. Xoay quanh câu chuyện về những đám cưới đó, ông đã cùng Mike Newell làm nên Four Weddings and a Funeral như một bức thư duyên dáng mang nhiều thông điệp về tình yêu, hôn nhân và hạnh phúc. Bộ phim kể về Charles (Hugh Grant) cùng nhóm bạn chuyên làm phù dâu, phù rể cho các đám cưới của bạn bè mình. Đây là bộ phim hài về đám cưới hay nhất. Đã đạt một giải Quả Cầu Vàng, bốn giải quan trọng của Viện Hàn lâm nghệ thuật điện ảnh và truyền hình Anh quốc (BAFTA). Là tác phẩm hài tình cảm kinh điển của điện ảnh Anh, Four Weddings And A Funeral đi theo số phận của anh chàng Charles và những người bạn của anh khi họ tự hỏi bản thân liệu mỗi người có tìm được tình yêu đích thực trong đời mình hay không. Tiếng sét ái tình đánh trúng Charles khi anh gặp cô gái xinh đẹp người Mỹ có tính cách phóng khoáng – Carrie (Andie McDowell). Thể loại : Hài hước, tâm lý, lãng mạn. Thời lượng : 117 phút. Công chiếu : 20/01/1994. Hãng sản xuất : Polygram Filmed – Gramercy Pictures. Charles gặp Carrie trong một đám cưới mình tham dự và ngay lập tức phải lòng cô. Tuy nhiên, vì do dự, hoài nghi trước tình yêu sét đánh này mà anh bỏ lỡ cơ hội cưới Carrie – người mà sau này anh mới nhận ra là tình yêu đích thực bấy lâu anh tìm kiếm… Bộ phim hài của đạo diễn Mike Newell chắc chắn sẽ không làm khán giả thất vọng khi mà những tình tiết gây cười đan xen trong sự lãng mạn ngọt ngào của tình yêu, tình bạn một cách sâu sắc, đầy ấn tượng. Bộ phim thành công bất ngờ với một loạt giải thưởng từ Hiệp hội điện ảnh Anh quốc và trở thành bộ phim Anh có doanh thu cao nhất lúc bấy giờ. Four Weddings And A Funeral đã được đề cử Oscar năm 1995 với danh hiệu Phim hay nhất. Đôi khi, tình yêu mang đến cả những sự trắc trở và nhiều bất ngờ thú vị. Hiếm có bộ phim nào người xem được tràn ngập trong không gian của tiệc tùng liên miên với rượu, hoa, âm nhạc nhiều đến thế. Vừa mang nét đặc trưng của một nghi lễ cưới phương Tây, bốn đám cưới trong phim còn mang những nét đặc trưng của các nền văn hoá khác nhau. Cả bộ phim là cuộc thách đố, tìm kiếm “rợ buộc chân” của một đám thanh niên chỉ mải mê ăn chơi mà coi thường sự nghiêm túc trong tình cảm đôi lứa mà nhân vật trung tâm là anh chàng Charles vui tính nhưng khá lông bông. Một thời gian sau lần gặp đầu, Charles gặp lại Carrie trong đám cưới của hai người bạn Bernard và Lydia, nhưng đáng buồn thay, đi cùng Carrie lại là vị hôn phu giàu có, quyền lực của cô, Hamish. Những tình huống xảy ra sau đó khiến Charles ngộ ra một điều, niềm vui và nỗi buồn luôn đi cùng với nhau, cơ hội chỉ đến một lần trong đời. Nếu như những phút đầu tiên, Charles đem đến cho khán giả ấn tượng về một gã thanh niên lôm côm, thích đùa giỡn trong tình cảm, dám làm nhưng không dám chịu thì về sau vẻ đau khổ buồn bã vì “nhìn người yêu đi lấy chồng” của Charles khiến người xem vừa thương vừa buồn cười. Đây cũng là tác phẩm làm nên tên tuổi của tài tử nước Anh Hugh Grant. Anh đã giành giải Quả cầu vàng và BAFTA với vai Charles, anh chàng phù rể vô tư chỉ biết đi lo hạnh phúc cho người khác. “Tôi nghĩ mình nên đến một nơi nào đó khác chẳng có con người.” Trong bộ phim người xem dễ dàng nhận ra phong cách lịch lãm, quý tộc của người Anh với sự kết hợp hai tông màu đen – trắng cổ điển, những bộ vest chỉn chu với hoa cài áo của nam và váy ôm xoè kết hợp cùng trang sức và mũ rộng vành của nữ. Bên cạnh đó, ở đám cưới thứ ba của Carrie và Hamish, người xem lại bắt gặp một không gian văn hoá đặc trưng của Scotland. Những chiếc váy kẻ sọc đỏ truyền thống, tiếng kèn rạo rực và vũ điệu Scotland Highland cuồng nhiệt… đã thổi tới nước Anh quý tộc và kiêu hãnh một hơi thở mới, hoang dại, tự nhiên như hương đồng, gió nội dưới ánh mặt trời. Trong không gian văn hoá đậm chất Anh đó, Carrie xuất hiện như một cơn gió lạ từ nước Mỹ nồng nhiệt, tràn đầy sức sống. Không cầu kỳ với váy dạ hội, trang sức ngọc trai hay những chiếc mũ rộng vành kiêu sa kiểu cách, Carrie vẫn nổi bật giữa hàng loạt tiểu thư nước Anh khác bởi mái tóc đen, xoăn tự nhiên cùng nụ cười rạng rỡ. Vẻ đẹp kiểu Mỹ đó đã quyến rũ Charles từ cái nhìn đầu tiên và cho đến mãi sau này. Nữ diễn viên Andie MacDowell trong vai Carrie từng là người mẫu cho tạp chí Vogue, một tạp chí thời trang nổi tiếng được xuất bản ở 21 quốc gia và khu vực trên thế giới, ngoài ra, Andie còn tham gia rất nhiều phim và show truyền hình. Nhân vật Charles của Hugh Grant thì là hình ảnh đại diện cho một lớp thanh niên đương thời với những suy nghĩ và phong cách sống phóng khoáng, chưa có tinh thần trách nhiệm trong tình cảm và gia đình. Ca khúc Love Is All Around (cover của The Troggs) mà nhóm nhạc Wet Wet Wet thể hiện trong phim sau đó cũng trở thành một trong những bản tình ca bất hủ nhất. PHỤ ĐỀ VIỆT NGỮ ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI BEGOOD SUBBING TEAM. VUI LÒNG KHÔNG SAO CHÉP HOẶC SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI. Sự duyên dáng của bộ phim không chỉ nằm ở những nghi lễ trang trọng mà còn nằm ở tiếng cười nhẹ nhàng, sâu sắc mà đạo diễn Mike Newell muốn gửi tới đằng sau những suy tư về tình yêu và hạnh phúc trong cuộc đời mỗi người. Xuất phát từ ẩn ý về sự đối lập giữa đám cưới và đám ma – hai sự kiện mang những trạng thái cảm xúc trái chiều nhau, tác giả đưa đến cho khán giả một cách nhìn khác về tình yêu và hôn nhân, sự sống và cái chết. Nghi lễ ở đây dường như được “đời thường hóa” bởi chính sự vô ý, nhầm lẫn của những người tham gia vào cử hành hôn lễ. Phù rể quên mang nhẫn, phù dâu quên cài khuy áo, mục sư quên tên của cô dâu chú rể… Sự xuất hiện ít ỏi nhưng đủ để lại khoảnh khắc đáng nhớ của diễn viên hài Rowan Atkinson cũng khiến bộ phim tăng thêm nét hài hước đậm chất Anh quốc. Năm 1994, Rowan Atkinson chưa đủ nổi tiếng để tham gia quảng bá cho Bốn Đám Cưới Và Một Đám Ma, nhưng cũng chính nhờ bộ phim này Atkinson mới nhận được sự chú ý từ giới phê bình và khán giả. Trong vai cha sứ Gerald, Atkinson khiến khán giả phải lăn ra cười với màn ăn nói vụng về đến mức khiến cả hội trường phải nhốn nháo, cô dâu chú rể thì xấu hổ bực bội còn khách mời thì bối rối. Sự trang trọng có tính nghi thức được mang ra giễu nhại kín đáo bởi sự vụng về và hồn nhiên theo nguyên lý những trò chơi thuở nhỏ. Chiếc nhẫn nhựa hình trái tim nhiều màu cùng chiếc nhẫn bạc hình thù quái gở được mang ra thay cho nhẫn đính hôn. Tiếng cười cất lên từ những nghịch lý đáng yêu như thế. Cũng như vậy, ở đám ma Gareth – một người bạn của Charles, sự xúc động thiêng liêng không đến từ những lời than vãn bi lụy mà đến từ một bài thơ dí dỏm, giản dị kêu gọi mọi người “Hãy ngừng tất cả những chiếc đồng hồ đang chạy, hãy tắt điện thoại…” để tưởng nhớ người đã ra đi. Các chiều kích của niềm vui – nỗi buồn, cái hài – cái bi đã đan xen duyên dáng trong khoảnh khắc thiêng liêng, quan trọng nhất của cuộc đời mỗi người. Đó là cách mà cuộc sống vốn nhiều bất ngờ và không hoàn hảo này tồn tại. Trải qua bao thử thách với những câu hỏi của chính bản thân mình trong chuyện tình yêu, cả Charles và Carrie mới đến được với nhau. Với tình yêu xuất phát từ trái tim, mọi nguyên tắc và chuẩn mực sẽ bị phá bỏ, cũng như định nghĩa về sự lãng mạn. Đó không phải là một lời tỏ tình được chuẩn bị công phu với hoa và nến, rượu vang và nhẫn. Đó chỉ đơn giản là một lời thú nhận: “Anh nghĩ là anh yêu em”. Sau tất cả những hoài nghi, do dự về sự khác biệt văn hóa cũng như địa vị xã hội, Charles từ bỏ tất cả để đến với Carrie bởi “Tình yêu là câu trả lời và bạn biết chắc điều đó”. Không cần diễn xuất quá phức tạp, Hugh Grant với nụ cười quyến rũ là một lựa chọn hoàn hảo cho vai diễn chàng Charles duyên dáng, đa tình. Cùng với vẻ đẹp tươi mới và đằm thắm của Andie MacDowell, Hugh Grant và câu chuyện tình yêu của mình mang đến sự lãng mạn, trong sáng cho bộ phim. “Love is all around” (Tình yêu ở quanh ta) sau những niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc và chia ly. Đó là thông điệp cuối cùng còn lại mà tác giả gửi tới người xem ở cuối bộ phim. Cuộc sống vẫn trôi đi theo quy luật của riêng nó nhưng tình yêu sẽ dẫn dắt con người đi theo những con đường riêng. Bộ phim tràn ngập tiếng cười và sự thanh thản trở nên tròn trịa hơn bởi một kết thúc có hậu. Nụ hôn dưới mưa ở cuối phim nồng nàn đến nỗi Carrie phải thốt lên rằng: “Trời đang mưa sao? Em không hề biết đấy”.