Menu Begood Subbing Team

Hoạt Hình (19 video - 0 phim)

Cập nhật mới nhất 01/03/2018 03:21

The Aristocats – Gia Đình Mèo Qúy Tộc

4707

The Aristocats là một trong số những bộ phim hoạt hình ưa thích nhất của Len, nhưng không phải ngẫu nhiên mà hay có sự so sánh giữa bộ phim này với các bộ phim Disney cổ điển thời kỳ trước. Đó chính là bởi vì, đây là bộ phim đầu tiên được sản xuất sau khi Walt Disney qua đời, và những phép so sánh cũng hoàn toàn hợp lý. Âm mưu bắt cóc các chú chó trong 101 Dalmatians được chỉnh sửa lại sao cho phù hợp với âm mưu bắt cóc mèo quy mô nhỏ hơn trong The Aristocats. Hình tượng hai chú mèo O’Malley và Duchess về cơ bản được xây dựng lại từ hai chú chó Lady và Tramp. Nhưng mà, chừng nào kết quả cuối cùng cũng thú vị không kém những bộ phim trong thời kỳ trước, thì tại sao lại phải than phiền nhỉ? Bất kể ra sao đi nữa, mỗi bộ phim Disney đều đã đạt được thành công, và có chỗ đứng riêng trong lòng các khán giả. Câu chuyện thì đơn giản thôi. Qúy bà Adelaide Bonfamille là một nữ triệu phú già neo đơn sống tại Paris, vào năm 1910. Những mầm sống duy nhất vui vầy cùng bà mỗi ngày là cô mèo của bà, Duchess và các con của cô mèo này, Toulouse, Marie và Berlioz, cũng như người quản gia đáng tin cậy, Edgar. Khi luật sư của quý bà, ông Georges, ghé qua để viết lại di chúc của quý bà, Edgar đã nghe lén những kế hoạch của bà ấy. Bà ấy muốn chuyển hết gia sản của mình lại cho gia đình mèo, rồi chúng sẽ được Edgar chăm sóc thật tốt và sau khi chúng qua đời, số gia sản còn lại mới được trao cho Edgar. Để rồi vô cớ, Edgar tức điên lên, đánh thuốc và bắt cóc gia đình mèo rồi bỏ chúng lại ở miền đồng quê nước Pháp, cách nhà hàng dặm. Ở đó chúng gặp được chú mèo Thomas O’Malley, một chú mèo lang thang giúp chúng trở về nhà, mà cái chính là bởi vì cô mèo mẹ Duchess. “CÁC QUÝ CÔ KHÔNG BẮT ĐẦU NHỮNG CUỘC CHIẾN, NHƯNG HỌ CÓ THỂ KẾT THÚC CHÚNG.” Mô tả về đặc điểm nhân vật O’Malley chắc chắn không quá khó đoán với người xem. Được lồng tiếng bởi Phil Harris (ngôi sao lồng tiếng cho chú gấu Baloo trong The Jungle Book), chú mèo này cũng cư xử y hệt như một chú gấu đáng yêu và nếu đã quen với Baloo, bạn cũng có thể nhìn thấy bóng dáng của Baloo trong O’Malley. Nhóm mèo chơi nhạc jazz, đứng đầu là chú mèo Scat, là những nhân vật xuất hiện tuy ít nhưng hiệu quả, mang theo chất nhạc jazz làm say lòng người. Chú chuột nhà Roquefort và cô ngựa Frou-Frou chỉ là những vai phụ, nhưng tỏa sáng theo cách riêng của mình. Edgar không hẳn là một kẻ ác thực thụ của Disney bởi vì… ông ta không độc ác, ông ta chỉ thiếu kiên nhẫn mà thôi. Ông ta không độc ác ngay từ đầu… tội lỗi duy nhất của ông ta chính là thiếu kiên nhẫn. Nếu ông ta không biết về bản di chúc, thì ông ta vẫn ngày ngày chăm sóc cho gia đình mèo tận tình như thể chẳng có chuyện gì xảy ra. Nếu nhìn nhận theo quan điểm của Edgar thì, gia đình mèo sẽ làm gì với số tiền chứ? Qúy bà hoàn toàn có thể trao lại căn nhà cho Edgar, và ông ta vẫn sẽ chăm sóc gia đình mèo vì ông ta đã quen và cũng yêu quý chúng. Nhưng như thế thì chúng ta đã chẳng có phim để mà xem, nhỉ? Dù sao đi nữa, Len cũng không thấy quá ghét nhân vật Edgar, đến cuối cùng, ông ta đã phải đến Timbuktu và sống một cuộc sống khổ sở rồi. Câu chuyện phim được pha trộn từ rất nhiều những bộ phim cổ điển trước đó của Disney. Ngoại trừ Fantasia – một bộ phim không có kịch bản rõ ràng, thì The Aristocats là bộ phim đầu tiên được sáng tạo ra mà không nhờ tới bất kỳ một cuốn sách hay câu truyện gốc nào làm nền tảng. Có một vài điểm có chút sơ sài, có một vài điểm có chút lỏng lẻo, nhưng The Aristocats đã có tính năng động và linh hoạt hơn rất nhiều so với các phần phim trước đó, và đó chính là lợi thế của bộ phim này. Không mang mục đích thể hiện chất hiện thực hay tâm lý và đôi nét bi kịch như các bộ phim thời kỳ trước, bộ phim này đơn thuần mang tính giải trí và rất vui vẻ, nên có thể được xếp vào danh sách những bộ phim đáng thưởng thức nhất của Disney. Và lại một lần nữa, Len đem bộ phim này trở lại với mọi người. Chúc mọi người xem phim vui vẻ nhé.

The Jungle Book 1967 – Cậu Bé Rừng Xanh

4209

Đã từng có rất nhiều câu chuyện kỳ lạ về khu rừng này. Nhưng có lẽ không một câu chuyện nào lại có sức hấp dẫn như câu chuyện về một cậu bé tên là Mowgli… (trích lời của nhân vật Báo đen Bagheera) Cậu Bé Rừng Xanh là một phim hoạt hình sản xuất bởi Disney dựa vào truyện cùng tên của Rudyard Kipling. Đây là một trong số những bộ phim hoạt hình nổi bật nhất của Disney. Những nhân vật và các câu chuyện của The Jungle Book đã trở nên quen thuộc với hàng triệu, triệu khán giả ở khắp nơi trên thế giới. Nhà văn người Anh gốc Ấn Độ Rudyard đã gửi gắm tất cả tình yêu của ông dành cho đất nước Ấn Độ vào hai cuốn sách “The Jungle Book” ra đời năm 1894 và sau đó là “The Second Jungle Book” xuất bản năm 1895. Mặc dù những câu chuyện trong The Jungle Book đều xảy ra tại rừng nhiệt đới Ấn Độ, nhưng lại được tác giả Kipling viết trong thời gian sống tại Vermont, Mỹ năm 1893-1894. Đây là thời điểm vợ ông hạ sinh cô con gái đầu lòng Josephine Kipling. Người ta đã tìm thấy một trong những bản in đầu tiên của The Jungle Book tại thư viện Wimpole Hall, Cambridgeshire, Anh, trên đó có dòng chữ viết tay đầy tình cảm của Kipling: “Cuốn sách này thuộc về Josephine Kipling, được viết bởi cha. Tháng Năm, 1894”. Mặc dù vốn là những cuốn sách dành cho thiếu nhi nhưng những câu chuyện với sự xuất hiện của các khu rừng già đầy bí ẩn và những sinh vật có khả năng trò chuyện đã chiếm được cảm tình của độc giả thuộc mọi lứa tuổi. Vậy là lần đầu tiên đã có một tác phẩm mang đến cho người đọc cái nhìn cận cảnh về đất nước Ấn Độ huyền bí. PHỤ ĐỀ VIỆT NGỮ THỰC HIỆN BỞI BEGOOD SUBBING TEAM VUI LÒNG KHÔNG SAO CHÉP HAY SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI Cuốn sách từng được chuyển thể thành phim 13 lần. Có thể nói, tác phẩm điện ảnh thành công nhất, được biết tới rộng rãi nhất là bộ phim hoạt hình The Jungle Book do Walt Disney Studios sản xuất năm 1967. Chú bé mồ côi Mowgli được báo đen Bagheera tìm thấy trong rừng, báo đen sau đó gởi chú cho bầy sói của con đầu đàn Akela và Raksha nuôi dưỡng. Sau khi con cọp dữ Shere Khan biết đến Mowgli, con cọp này đòi đoạt mạng chú, vì vậy Mowgli phải rời đàn sói để tìm về với loài người. Buộc phải rời khỏi chốn dung thân duy nhất, Mowgli dấn bước vào một hành trình khám phá với sự dẫn dắt của báo đen Bagheera và gấu Baloo. Trên đường đi, Mowgli đã phải đối phó với những sinh vật xấu xa: một con trăn tên Kaa có ánh mắt thôi miên, con khỉ đột King Louie với khả nãng nói tiếng người lưu loát. Chúng cố ép buộc Mowgli hé lộ công thức tạo ra “bông hoa đỏ” lập lòe, mà Loài người chúng ta vẫn gọi là Lửa. The Jungle Book được đưa vào sản xuất sau bộ phim hoạt hình The Sword in the Stone (Thanh Gươm Trong Đá), với mong muốn phát triển thêm những câu chuyện có nhân vật chính là động vật. Ban đầu, Walt Disney chỉ giám sát sơ qua, nhưng hiệu ứng từ bộ phim The Sword in the Stone không được tốt như mong đợi nên nhà làm phim huyền thoại quyết định can thiệp nhiều hơn vào kịch bản của The Jungle Book. Ông đã đưa ra rất nhiều thay đổi then chốt bao gồm việc viết lại kịch bản để bộ phim tươi vui và hợp với gia đình, thay đổi nhà soạn nhạc cho phim, tuyển chọn diễn viên lồng tiếng,… Walt Disney đã qua đời 10 tháng trước khi The Jungle Book chính thức ra rạp. Và tác phẩm điện ảnh cuối cùng do ông sản xuất đã thành công vang dội về mặt thương mại, hiện đang nằm ở vị trí thứ 29 trên bảng xếp hạng các phim ăn khách nhất mọi thời đại tại Mỹ. Bộ phim hoạt họa đã thành công rực rỡ, cứu nguy cho hãng Walt Disney Pictures và được phát lại 19 lần. Bộ phim thu được tổng cộng 73.741.048 đô la Mỹ trên toàn thế giới. Những ca khúc mang tính biểu tượng của phim như “The Bare Necessities” và “I Wanna Be Like You” vẫn còn truyền cảm hứng sáng tác cho rất nhiều nghệ sỹ ngày nay.

The Sword In The Stone – Thanh Gươm Trong Đá

4209

The Sword In The Stone là bộ phim hoạt hình ca nhạc hài kịch kỳ ảo năm 1963 sản xuất bởi Walt Disney và công chiếu tại rạp ngày 25 tháng 12 năm 1963 bởi Buena Vista Distribution. Đây là phim hoạt hình Disney cuối cùng ra mắt trước khi Walt Disney qua đời. Mới đây, nhiều trang web cũng đã xác nhận Nhà Chuột đang phát triển một phiên bản live-action của bộ phim Sword in the Stone. Bộ phim được thực hiện dựa cuốn tiểu thuyết cùng tên của tác giả T. H. White phát hành năm 1938. PHỤ ĐỀ VIỆT NGỮ BỞI BEGOOD SUBBING TEAM. VUI LÒNG KHÔNG SAO CHÉP HAY SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI. Anh em nhà Sherman viết và hòa âm các bài hát trong phim, cũng là những người về sau tiếp tục viết nhạc cho các phim Disney khác như Mary Poppins (1964), The Jungle Book (1967), và Bedknobs And Broomsticks (1971). Thế kỷ thứ 6, sau khi vua Uther Pendragon mất mà không tìm ra người nối ngôi, một thanh kiếm thần kỳ xuất hiện cắm sâu vào một tảng đá ở London. Cả vương quốc chìm vào loạn lạc. Truyền thuyết nói rằng hễ ai rút được thanh kiếm Excalibur cắm sâu trong đá thì sẽ trở thành vua của nước Anh. Không ai rút được nó kể cả những trai tráng khỏe mạnh nhất. Thanh kiếm bị quên lãng, nước Anh không có vua và rơi vào thời trung cổ đen tối. Cậu bé Wart hay còn gọi là Arthur là một đứa trẻ mồ côi, được Hiệp sĩ Ector nhận về nuôi. Tất nhiên cậu lại không được cha yêu quý bằng người anh Kay. Khi cậu 12 tuổi, cậu “bay lạc” vào căn chòi của phù thủy Merlin nằm sâu trong rừng khi đang cố lấy lại một mũi tên trên thân cây cao. Merlin tự xưng là thầy của Wart và quyết “dạy dỗ” cậu để sẵn sàng cho một điều gì đó chờ đợi Wart trong tương lai. Arthur đến học tập với pháp sư già Merlin để mở mang hiểu biết vì cậu bé vốn không có năng khiếu với việc chiến đấu. Chính Merlin là người phát hiện ra chỉ duy nhất Arthur có khả năng nhấc thanh gươm khỏi tảng đá và có đủ tài trí để trở thành Vua. Bố nuôi cậu là Ngài Ector dù không đồng ý lắm với điều này nhưng cũng chấp thuận vì sợ Merlin sẽ dùng phép thuật để chơi chiêu. Bạn của Ector, Ngài Pellinore, đến báo tin một cuộc thi cưỡi ngựa đấu thương thường niên năm nay sẽ tổ chức vào dịp tân niên tại London, và người chiến thắng sẽ được phong làm vua. Qua các bài học Arthur cảm thấy hứng thú và điều này gây ra mâu thuẫn giữa cậu với bố nuôi Ector, người có tư duy ” đúng thời đại” và không tin những điều “vĩ mô” đến từ tương lai mà Merlin dạy cho Arthur. Vì quá bảo vệ cho Merlin, Arthur bị tước quyền làm hầu cho Kay và không được đi London. Đêm Giáng sinh, người hầu mới của Kay đổ bệnh và Ector buộc phải phục chức cho Arthur đi London. Merlin giận vì sau bao nhiêu điều đã học, Arthur vẫn cứ đi theo con đường trung cổ toàn đánh đấm và bạo lực. Khi đến London, các hiệp sĩ lão thành động viên Wart lên rút thử thanh gươm. Chỉ có Arthur rút được thanh kiếm ra khỏi đá và được phong làm vua. Merlin bay về từ tương lai và kể cho cậu nghe cậu sẽ trở thành một vị vua vĩ đại như thế nào cũng như khuyến khích cậu chấp nhận định mệnh của mình. Đây chính là phiên bản của Disney về huyền thoại lãnh đạo nước Anh: Vua Arthur. Đạo diễn : Wolfgang Reitherman. Công chiếu : 25/12/1963. Thời lượng : 79 phút. Nhà biên kịch của Game Of Thrones là Bryan Cogman đã được đặt viết kịch bản cho bộ phim live-action. Hiện nay mới chỉ có tin Brigham Taylor, nhà sản xuất phiên bản live-action The Jungle Book của Jon Favreau, cũng sẽ là nhà sản xuất cho Sword in the Stone. Năm 1939, Walt Disney nhận được tác quyền từ tác giả T.H.White để làm phim dựa trên cuốn The Sword In The Stone của ông, và các bản phác thải ban đầu được thực hiện năm 1949. Khi phim 101 Dalmatians hoàn tất vào năm 1960, hai dự án được phát triển song song là Chanticleer và The Sword in the Stone. Thanh gươm trong đá thành công về mặt thương mại, trở thành phim có doanh thu cao thứ sáu năm 1963. Phim thu về 22,182,353 đô la ở thị trường Bắc Mỹ. Trong cuốn sách The Best of Disney, Neil Sinyard cho rằng dù phim không nổi tiếng như các tác phẩm khác, Thanh gươm trong đá có phần hoạt họa xuất sắc, bố cục phức tạp và triết lý hơn các phim Díney khác.

Resident Evil : Degeneration

5765

Resident Evil Degeneration là phim anime đồ họa vi tính công chiếu năm 2008 được thực hiện bởi hãng CAPCOM và Sony Pictures Entertainment. Đây là phim đồ họa đầu tiên trong dòng trò chơi Resident Evil. Phim đã công chiếu lần đầu tại 3 rạp ở Nhật Bản vào ngày 18 tháng 10 năm 2008 nhưng trong thời gian rất hạn chế chỉ trong hai tuần, việc công chiếu kết thúc vào ngày 31 tháng 10 năm 2008. Câu chuyện mở đầu vào mùa thu năm 2005 tại một phi trường tấp nập ở Hoa Kỳ. Tức là 7 năm sau vụ thả bom hạt nhân tại thành phố Raccoon. Một tổ chức khủng bố đã lén lút phát tán T-virus ra toàn bộ khu vực một sân bay. Ngay lập tức, những thây ma bắt đầu hoành hành và cơn ác mộng tưởng chừng đã trôi vào dĩ vãng nay lại bùng nổ. Phim lấy bối cảnh giữa hai phần trò chơi Resident 4 và 5. Với hai nhân vật chính từ Resident Evil 2 là Leon S. Kennedy và Claire Redfield, nhưng chín chắn và gan lì hơn ngày nào. Cốt truyện xoay quanh việc một sân bay bị một máy bay mất lái đâm vào và trên máy bay đầy các thây ma bị nhiễm T-virus, chúng nhanh chóng lây lan ra toàn sân bay nơi mà Claire Redfield đang chờ máy bay. Lực lượng đặc nhiệm và lính thủy đánh bộ đã được cử đến để phong tỏa toàn sân bay này. Xem đây là một vụ khủng bố sinh học, ngăn không cho các thây ma đi ra ngoài và tìm kiếm những người sống sót, Leon S. Kennedy cũng đã được cử đến hiện trường và tham gia hoạt động cứu hộ và điều tra. Hai nhân vật chính đã gặp lại nhau trong sân bay và cùng nhau điều tra âm mưu gây ra thảm họa này. Họ hợp tác cùng một đội đặc nhiệm để giải quyết tình hình trước khi T-virus bay ra ngoài không trung. Thời gian để thi hành nhiệm vụ khó khăn này chỉ vỏn vẹn gói gọn trong 4 giờ đồng hồ. Nếu thất bại, họ sẽ bị chính phủ cuốn văng cùng một đợt bom thiêu hủy khẩn cấp. Bộ phim được công chiếu tại Nhật và tiến công đến thị trường Bắc Mỹ bằng DVD, Blu-ray vào cuối năm 2008. Trong một lần phỏng vấn, nhà sản xuất Jun Takeuchi của trò chơi Resident Evil 5 đã cho biết: sau Leon và Claire, những nhân vật khác cũng sẽ lần lượt được xuất hiện trong các cuộc phiêu lưu rùng rợn khác nhau. Chỉ trong hai tuần công chiếu, phim đã thu về 43 triệu Yên với hơn 33.000 lượt người xem. Đạo diễn của phim là người Nhật và các diễn viên lồng tiếng đều tới từ Mỹ. Âm nhạc của phim do Takahashi Tetsuya biên soạn. Bài hát chủ đề của phim là bài hát kết thúc có tên GUILTY do Tsuchiya Anna trình bày. Album chứa các bản nhạc dùng trong phim đã phát hành vào ngày 17 tháng 12 năm 2008. Phiên bản DVD/BD trong tuần đầu tiên phát hành đã giành vị trí DVD bán chạy nhất trong mục anime của Oricon và tính đến ngày 14 tháng 9 năm 2010 thì phim đã tiêu thụ được 1.6 triệu bản trên toàn thế giới.

Cinderella

4468

“Hãy can đảm và tốt bụng…” “Cinderella”, một trong những câu chuyện cổ tích nổi tiếng nhất mọi thời đại là bộ phim hoạt hình gắn với nhiều kỉ niệm tuổi thơ của biết bao trẻ nhỏ. “Cinderella” lấy chất liệu từ 1 câu chuyện khác ra đời từ thế kỉ thứ 1 trước CN. Một nhà nghiên cứu địa lý Hy Lạp cổ đại kể lại rằng, trong các nghiên cứu ông từng đọc, có 1 câu chuyện kể về cô gái nô lệ đến từ Ai Cập mang 1 đôi giày rất đẹp. Một ngày, tình cờ chiếc giày bị đánh cắp bởi con đại bàng to lớn, và trong 1 lần đi vi hành nhà vua vô tình nhặt được. Yêu thích vẻ đẹp chiếc giày, nhà vua liền sai thợ làm riêng cho vợ mình 1 đôi giống y hệt. Những phiên bản khác của câu chuyện được người đời sau phát triển vào các năm 1634, 1697 và 1812 bởi các nhà văn Cendrillon, Perrault và Aschenputtel. Trong đó, phiên bản truyện cổ tích của anh em nhà Grim được coi là thành công và hoàn chỉnh nhất mà sau này đã trở thành kịch bản cho bộ phim hoạt hình nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử Disney. Cinderella là bộ phim hoạt hình thứ 12 của Walt Disney Pictures. Bộ phim đánh dấu sự thành công rực rỡ của hãng Disney trong việc sản xuất phim hoạt hình. Bộ phim cũng giúp hãng Disney bước vào kỷ nguyên hoàng kim, với sự đa dạng hóa trong quá trình sản xuất, vốn có từ thập niên 1940. Ngoài ra bộ phim cũng được coi là một trong những biểu tượng của Walt Disney. Thể loại : Hoạt hình, gia đình, viễn tưởng. Thời lượng : 72 phút. Công chiếu : 04/03/1950. Đạo diễn : Clyde Geronimi – Wilfred Jackson. Biên kịch : Charles Perrault – Ken Anderson. Hãng sản xuất : Walt Disney Productions. Một điều đáng thú vị nữa là “Cinderella” được vay mượn từ từ tiếng Pháp “Cendrillon”, có nghĩa là “cô gái lem luốc”. Charles Perault là người đầu tiên để nàng Lọ Lem đi đôi hài thủy tinh và có 1 bà tiên đỡ đầu trong phiên bản truyện năm 1697 của mình. Một vài phiên bản khác, các tác giả để cho nhân vật mang chiếc nhẫn phép thuật bằng vàng hoặc bạc, hoặc đi 1 đôi giày da. Tương tự như vậy, linh hồn của mẹ Lọ Lem hóa thân thành bà tiên đỡ đầu trong 1 vài truyện. Ngày xửa ngày xưa, có nàng Lọ Lem rất xinh xắn sống hạnh phúc bên cha mẹ yêu quý. Nhưng đến một ngày kia mẹ mất, cha Lọ Lem tái giá với bà Tremaine, một người phụ nữ độc ác có hai đứa con gái đáng ghét tên là Drizella và Anastasia. Khi cha qua đời, bà mẹ kế coi nàng như kẻ tôi tớ trong nhà, bắt nàng làm việc quần quật suốt cả ngày. Cuộc sống cứ thế trôi qua cho đến một ngày kia, nhà vua quyết định đã đến lúc con trai ông phải tìm một người vợ để sinh cho ông những đứa cháu đáng yêu. Vì thế ông mở một buổi dạ hội và mời toàn thể các thiếu nữ chưa chồng tới dự để hoàng tử có thể chọn được cô gái ưng ý nhất. Mụ dì ghẻ ra điều kiện rằng Cinderella phải làm xong mọi việc và có một bộ váy phù hợp để đi dự tiệc. Trong khi cô làm việc, chuột và chim đã bí mật sửa lại cho Cinderella chiếc váy cũ của mẹ cô. Khi xe ngựa đã đến để đón mọi người đi đến bữa tiệc. Cinderella chạy xuống và khoe mọi người về chiếc váy đó. Hai cô chị thì hét lên rằng: “Đó là chiếc vòng cổ của con, đó là váy của con, con bé ăn cắp”. Vừa nói vừa xé tan chiếc váy của Cinderella. Cô rất buồn và khóc rồi mẹ đỡ đầu hiện lên. Phù phép biến quả bí ngô thành cỗ xe, 4 con chuột thành 4 con bạch mã, con ngựa là người phu xe và con chó là người phục vụ. Cô đến khi hoàng tử đang ngán ngẩm bữa tiệc. Hoàng tử nhìn thấy cô và bị hút hồn ngay, hoàng tử chạy đến và khiêu vũ với cô và đem lòng yêu Cinderella. Để tìm lại người con gái trong mơ, hoàng tử muốn tất cả các cô gái trẻ được phép ướm thử giày, nếu vừa thì sẽ trở thành vợ chàng. Mặc dù bị dì ghẻ và hai cô chị ngăn cản, làm vỡ chiếc giày mà Hoàng tử giữ, nhưng cuối cùng Lọ Lem cũng xuất hiện với chiếc giày thủy tinh thứ hai. PHỤ ĐỀ VIỆT NGỮ THỰC HIỆN BỞI BEGOOD SUBBING TEAM. VUI LÒNG KHÔNG SAO CHÉP HOẶC SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI. Khi Disney quyết định làm phim hoạt hình “Cinderella” năm 1948, đó là 1 cuộc mạo hiểm lớn với sự nghiệp của ông. Xưởng phim đã hoạt động không mấy ổn định kể từ sau khi thực hiện bộ phim “Snow White” năm 1937. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Disney gánh nợ 4 triệu đô, và “Cinderella” được xem là con xúc xắc khổng lồ của Disney. Nếu “Cinderella” thất bại, Walt sẽ phải đóng cửa xưởng phim hoạt hình và chấm dứt sự nghiệp tại đó. Nhưng may mắn thay, “Cinderella” đã tạo bước ngoạt lớn cho tương lai của Disney Animation. Cinderella là bộ phim hoạt hình với hình ảnh và âm nhạc ngọt ngào. Đây là lần đầu tiên hãng Walt Disney Music Company mới thành lập đăng ký bản quyền và phát hành chính thức các ca khúc sử dụng trong phim. Trường đoạn “Cinderella” được mẹ tiên đỡ đầu biến hóa trở thành nàng công chúa xinh đẹp được bật mí là 1 trong những cảnh phim yêu thích nhất của Disney. Từng chi tiết nhỏ xinh gợi lên điều kì diệu của phép thuật và khiến trẻ nhỏ cũng như người lớn thêm niềm tin, niềm yêu cuộc sống. Thành công của Cinderella có được không chỉ vì hình ảnh đẹp mà còn nhờ phần lồng tiếng xuất sắc của các diễn viên, đặc biệt là Ilene Woods. Cô đã đánh bại 309 cô gái khác để giành được vai Lọ Lem sau khi hãng Walt Disney nhận được cuốn băng ghi giọng hát của cô. Mặc dù là những cô nàng phản diện, nhưng khán giả khi xem phim lại không mấy ác cảm với 2 nhân vật chị gái, thay vào đó là sự thương hại, buồn cười. Tuy nhiên, trong các phiên bản truyện, Drizella và Anastacia lại có kết cục khá bi thảm. Nếu như Grimm cho chim mổ mù mắt 2 cô thì Perault lại quyết định để dì ghẻ lần lượt chặt ngón chân 2 cô con gái để cố đi vừa chiếc giày. Translator : Cá Thích Leo Cây. Editor : Len Blue. Designer : Ngọc Trang Đinh. Encoder & Uploader : Lone Survivor.

Robin Hood

4981

“Cậu cứ ngẩng cao đầu lên, ngày nào đó sẽ lại có hạnh phúc thôi.” Robin Hood là bộ phim hoạt họa kể về một anh hùng trong lịch sử dân gian nước Anh. Đó là một huyền thoại về một người anh hùng – một tên cướp, chuyên cướp của người giàu cho người nghèo. Trong số những bộ phim hoạt hình khai thác câu chuyện về Robin Hood, Robin Hood bản phim năm 1973 là một trong những phiên bản được nhiều thế hệ trẻ em yêu thích nhất. Bộ phim gây ấn tượng khi các nhân vật quen thuộc được hóa thân và nhân hóa bới các con thú trong rừng xanh, trở thành những nhân vật quen mà lạ.. Thể loại : Hoạt hình, phiêu lưu, hài hước. Thời lượng : 83 phút. Công chiếu : 08/11/1973. Đạo diễn : Wolfgang Reitherman. Biên kịch : Larry Clemmons. Hãng sản xuất : Walt Disney Productions – Buena Vista Distribution. Câu chuyện có một kết thúc thật hạnh phúc tại khu rừng Sherwood, thời trị vì của vua Richard. Một ngày kia, Robin Hood và anh bạn John Bé nhỏ đang lang thang trong rừng và bắt gặp kiệu của Hoàng tử John. Bên trong kiệu là Hoàng tử John và cận thần Hiss đang đếm những đồng tiền vàng vừa cướp được của dân làng. Robin và John Bé nhỏ bèn giả dạng thành hai bà thầy bói và mon men lại gần kiệu của Hoàng tử John. Mời gọi John xem bói, đồng thời cướp sạch sẽ vàng bạc châu báu trên kiệu. Sau lần đó, Hoàng tử John rất căm hận Robin Hood, hắn ra lệnh cho quân lính truy nã Robin Hood khắp nơi. Trở lại với làng Nottingham, ở đây tên Cảnh sát trưởng tham lam không kém gì Hoàng tử John, hắn đặt ra đủ thứ các loại thuế và đi vơ vét, cướp bóc của tất cả dân làng. Cả thầy dòng Tuck mà hắn cũng không tha, hắn cướp luôn những đồng tiền được giấu trong chân què của anh thợ rèn Otto và cả một đồng vàng duy nhất mừng sinh nhật của chú thỏ non Skippy. Tất cả dân làng đều rất căm uất, cho đến khi Robin Hood xuất hiện trong bộ dạng của một kẻ ăn mày. Chàng giả dạng để đi phân phối những gì vừa cướp được từ Hoàng tử John. Chàng trở về khu rừng Sherwood, để lại sau lưng những tiếng cười hạnh phúc và biết ơn của dân làng Nottingham. Tiểu thư Marian là người yêu từ tấm bé của Robin Hood. Biết được điều này, Hoàng tử John đã tổ chức một cuộc thi bắn cung nếu ai thắng sẽ được tặng một nụ hôn từ Tiểu thư Marian, hòng lừa Robin Hood xuất hiện để bắt chàng. Cuộc thi “mũi tên vàng” được đông đảo trai tráng lũ lượt kéo đến dự thi. Tiểu thư Marian và vú nuôi Kluck xuất hiện và nhận ra Robin trong lốt một chú cò cao lêu nghêu. Và trong cuộc thi này, tất nhiên là Robin Hood đã chiến thắng vì bắn cung là sở trường của anh. Lúc chiến thắng cũng là lúc Robin bị phát hiện, tưởng chừng chàng sẽ bị bắt, nhưng chàng đã thoát nhờ sự giúp đỡ của dân làng và anh bạn “nhỏ bé” John. Đã thế, chàng còn đem được Tiểu thư Marian vào rừng. Sau một cuộc “viếng thăm” ngoạn mục cung điện của Hoàng tử John khi hắn đang giận dữ cho bắt bớ dân làng, Robin lại cướp hết được tiền vàng của hắn. Robin và Marian đã làm đám cưới trong rừng trước sự chứng kiến của dân làng và bạn bè của Robin. “Này, nhớ ta không? Chúng ta vẫn chơi cùng nhau khi còn nhỏ, nàng sẽ cưới ta nhé?” Do thay đổi trong bối cảnh cũng như bản chất nhân vật, nên nội dung Robin Hood tất nhiên cũng phải có những điều chỉnh sao cho phù hợp. Ở bản phim này, Robin Hood là một chú cáo, nổi tiếng là thảo khấu rừng xanh, với tài hóa trang và bắn cung bách phát bách trúng. Mặc dù không phải là một bộ phim của Disney được nhiều người biết tới nhưng bộ phim hoạt hình Robin Hood sản xuất năm 1973 đã khiến người xem xúc động bởi câu chuyện tình lãng mạn giữa người hùng Robin Hood và Tiểu thư Marian. Nhắc tới Robin Hood, nhiều người sẽ cho rằng xuyên suốt cả bộ phim sẽ là những cảnh hành động nhưng trong bộ phim này, yếu tố lãng mạn cũng được các nhà làm phim chú ý. Trong cảnh quay, khi mà Robin Hood sắp bị chém đầu và tiểu thư Marian bày tỏ tình cảm dành cho chàng, chàng cũng bày tỏ lại với nàng sau nhiều năm xa cách. Hai nhân vật nhận ra rằng tình yêu của mình dành cho người kia vẫn còn nguyên vẹn. Cảnh đó xứng đáng là một trong số những cảnh đẹp nhất về tình yêu trong phim hoạt hình của Disney. Tình yêu này hoàn hảo chính bởi sự đơn giản khi Robin Hood và Marian nhận ra trong lòng mình vẫn còn có người kia.

Sleeping Beauty

4510

“Kết thúc có hậu của tôi ở đâu ?” Người đẹp ngủ trong rừng (tựa tiếng Anh: Sleeping Beauty) là bộ phim hoạt hình do hãng Walt Disney sản xuất năm 1959, dựa trên truyện cổ tích cùng tên, cũng như dựa trên vở ballet rất nổi tiếng của nhà soạn nhạc Pyotr Ilyich Tchaikovsky. Bộ phim còn được biết với tựa đề Công chúa ngủ trong rừng. Đạo diễn : Clyde Geromini – Les Clark. Biên kịch : Erdman Penner – Joe Rinaldi. Ngày công chiếu : 29/01/1959. Thời lượng : 75 phút. Sleeping Beauty là hình mẫu của những chuyện tình kinh điển. Với sự góp mặt của hoàng tử, công chúa, ba bà tiên hiền dịu và một bà tiên độc ác Maleficent, Sleeping Beauty là một trong những phim hoạt hình tuyệt vời nhất của hang Walt Disney. Phát hành vào năm cuối của thập niên 1950, đây là bộ phim hoạt hình đắt nhất khi đó, với chi phí sáu triệu USD. Nhưng đây là số tiền đầu tư xứng đáng cho một tác phẩm đã gieo vào long hang triệu thiếu nữ mơ ước về một chàng hoàng tử đẹp trai. Bộ phim này có doanh thu gần 52 triệu USD tại Mỹ (tương đương 465 triệu USD hiện nay). Ngày xửa ngày xưa tại một vương quốc xa xôi, sau bao ngày tháng mong chờ, hoàng hậu nhân từ cuối cùng đã hạ sinh được một nàng công chúa xinh xắn đặt tên là Aurora. Quá đỗi vui mừng trước sinh linh bé nhỏ mới chào đời, nhà vua và hoàng hậu mở một buổi tiệc tưng bừng và mời ba bà tiên đỡ đầu ban phép lành cho nàng công chúa nhỏ. Bỗng nhiên mụ phù thủy Maleficent xuất hiện với nỗi tức giận vì đã không được mời đến. Vì thế Maleficent ra một lời nguyền độc ác: năm 16 tuổi, công chúa sẽ bị mũi nhọn của một con thoi đâm vào ngón tay và chết. Để hóa giải lời nguyền, một bà tiên đã nguyện rằng khi đâm vào con thoi, công chúa sẽ không chết nhưng sẽ ngủ một giấc dài cho đến khi nào được nụ hôn của tình yêu thật sự đánh thức cô. Ba bà tiên đã phải giả dạng dân thường để bảo vệ công chúa, đồng thời hạn chế không dùng phép thuật để tránh sự truy đuổi của mụ Maleficent. Công chúa càng lớn càng có một sắc đẹp mặn mà, Nàng không biết mình là một công chúa mà vẫn giản dị như các cô thôn nữ. Đúng vào sinh nhật lần thứ 16, do sơ suất của ba bà tiên, tung tích của nàng công chúa dễ thương đã bị lộ. Lời nguyền độc địa của mụ Maleficent đã hiệu nghiệm, trong một phút sơ sẩy, nàng công chúa bị mũi nhọn của một con thoi đâm vào ngón tay. Ngay lập tức, nàng rơi vào giấc ngủ triền miên. Không còn cách nào khác, ba bà tiên phải tìm sự trợ giúp từ hoàng tử Phillip, là người yêu của Aurora để giải lời nguyền. Họ cứu hoàng tử Phillip ra từ ngục tối của mụ Maleficent và giúp chàng đến lâu đài. Biết được chàng đã trốn thoát, mụ Maleficent điên tiết dùng phép thuật của mình tạo ra rừng gai ngăn không cho chàng tới lâu đài, nhưng hoàng tử Phillip vẫn vượt qua được. Cuối cùng mụ Maleficent hóa thân thành một con rồng khổng lồ để tấn công Phillip và bị chàng đâm chết. Hoàng tử Phillip tìm đến nơi công chúa đang thiếp ngủ và đặt lên môi nàng một nụ hôn dịu dàng. Lời nguyền của mụ Maleficent đã được hóa giải, cả vương quốc tỉnh giấc tưng bừng ăn mừng lễ cưới của hoàng tử và công chúa. Bộ phim đã được giải Oscar cho hạng mục Hòa âm Phim ca nhạc xuất sắc nhất dành cho Geogre Bruns và giải Grammy cho Album Soundtrack xuất sắc nhất. Một câu chuyện lãng mạn, một tình yêu vượt lên trên cả cái chết, một nụ hôn mãnh liệt thức tỉnh giấc ngủ ngàn thu, hãy cùng Begood Subbing Team đắm mình trong ký ức tuổi thơ với bộ phim hoạt hình của hãng Disney – Sleeping Beauty – Công chúa ngủ trong rừng…

Tangled – Công chúa tóc mây

6057

Tangled là bộ phim hoạt hình dài thứ 50 của Walt Disney và tính đến thời điểm này “Tangled” là bộ phim hoạt hình có chi phí sản xuất lớn nhất trong lịch sử Hollywood (260 triệu đô la), chỉ đứng sau Cướp biển Caribbean 3 (Pirates of the Caribbean: At World’s End – 300 triệu đô la). Số tiền đầu tư cho bộ phim hoạt hình 3D này thậm chí còn cao hơn cả Avatar. Nội dung phim xoay quanh nhân vật công chúa Rapunzel (Mandy Moore lồng tiếng) với mái tóc vàng óng ánh dài bằng cả tòa tháp có khả năng chữa bệnh và giữ cho nhan sắc tươi trẻ. Chính vì khả năng này mà Rapunzel bị mụ phù thủy bắt và giam giữ nhiều năm để giúp cho mụ luôn trẻ đẹp, cho tới một ngày nàng thoát được khỏi tòa tháp nhờ gã thảo khấu Flynn (Zachary Levi). Có thể nói “Tangled” đánh dấu sự trở lại ngoạn mục của Walt Disney đối với thể loại phim hoạt hình. Nàng công chúa của Walt Disney hiện lên rất bình dân, nhưng không kém phần lém lỉnh và cũng đầy bản lĩnh. Và một lần nữa, Disney đã chứng minh công thức giá trị của họ: Siêu phẩm vẫn có thể tạo ra từ những chất liệu vô cùng quen thuộc. “Tangled” dựa vào câu chuyện cổ tích của anh em nhà Grimme, “Rapunzel” – kể về cô bé tên “Rapunzel” bị mụ phù thủy bắt nuôi từ tấm bé. Mụ ta nhốt Rapuzel trên tháp ngà để cô không thể trốn đi. Đến năm 12 tuổi, mụ phù thủy hủy tất cả con đường lên tháp. Mỗi lần ghé thăm, mụ ta nhờ đến mái tóc vàng óng mượt của nàng, như một chiếc thang để đi lên. Cho đến một ngày, chàng hoàng tử nọ tình cờ nghe được giọng hát của Rapunzel và tìm thấy nàng. Câu chuyện về nàng Rapunzel từ lâu đã làm mê hoặc những bậc thầy kể chuyện của Disney, câu chuyện đã được phát triển từ những năm 1940 bởi chính Walt Disney. Đạo diễn Byron Howard và Nathan Greno đã giúp lèo lái “Tangled” hướng tới màn ảnh rộng. Tangled là sự tổng hợp một cách hài hòa những yếu tố thành công của một bộ phim gia đình mang thương hiệu Disney: một cuộc phiêu lưu hấp dẫn với nhiều tình huống bất ngờ và cũng không kém phần hài hước, những nhân vật cá tính trong một thế giới hoạt hình ngập tràn sắc màu. Những cặp đôi yêu nhau cũng sẽ có nhiều giây phút lãng mạn khi chứng kiến mối tình giữa Flynn và Rapunzel, đặc biệt là cảnh hai người đi thuyền trên sông với bầu trời đầy hoa đăng trong giai điệu của tình khúc I See the Light. Cảnh phim rất đẹp, từ ngọn tháp trong rừng nơi Rapunzel ở cho đến lễ hội và đỉnh cao là đêm đèn lồng lung linh mừng sinh nhật công chúa. Walt Disney thậm chí đã chú ý đến cả phục trang của Rapunzel, cô mặc một bộ váy màu tím giản dị, chân không đi giày. Phiên bản của Disney gần như chỉ giữ lại chi tiết mái tóc dài đến chân tháp, và việc Rapunzel bị bắt nuôi từ tấm bé, xa khỏi cha mẹ ruột. Tên của mụ phù thủy vẫn được giữ nguyên, Gothel, trong phim chỉ là một bà lão bình thường. “Tangled” không chỉ mang tính giải trí mà còn được giới phê bình toàn cầu đánh giá cao. Tạp chí TIME cho rằng bộ phim hoạt hình thứ 50 của Disney là sự kết hợp hoàn hảo của các yếu tố hài, lãng mạn, phiêu lưu và chạm tới trái tim của mọi khán giả. Đặc điểm hay trong phim này là tính chất hoàng gia không nhiều. Nàng công chúa được giáo dục rất tốt, biết nấu nướng, may vá, vẽ đẹp, chơi guitar chứ không phải piano, thậm chí rất chăm chỉ dọn nhà. Rapunzel đánh bạn với một chú tắc kè tên Pascal. Sinh nhật 18 tuổi, nàng khao khát được ngắm nhìn tận mắt những chiếc đèn lồng mà cả Vương quốc thả lên bầu trời mỗi năm để tưởng nhớ công chúa thất lạc. Đặc biệt cảnh quay thả đèn lồng trong ngày sinh lần thứ 18 của công chúa Rapunzel gây ấn tượng nhất với cả người xem và giới phê bình. Dựng nên một bầu trời được lấp đầy bởi những ngọn hoa đăng cho cảnh quay quan trọng trong phim là một thử thách lớn nữa cho đội ngũ hiệu ứng hình ảnh. Nhóm hiệu ứng dựng nên một nhóm gồm 14 ngọn hoa đăng với nhiều màu sắc và hình dáng khác nhau. Một ngọn lửa với 10.000 điểm sáng được đặt vào trong mỗi ngọn đèn và sau đó chúng được nhân bản lên, trong một cảnh cao trào có đến 46.000 ngọn hoa đăng xuất hiện. Nhân vật nam chính cũng không phải là hoàng tử như trong nguyên tác truyện cổ tích. Flynn Rider chỉ là một tên trộm ranh mãnh nhưng luôn che giấu đi những mong ước giản dị trong trái tim mình và luôn biết vươn lên từ lúc còn nhỏ. Nếu không gặp cô gái tóc dài đáng yêu kia, chắc hẳn cuộc sống của chàng sẽ mãi trôi đi trong sự đơn điệu. Bộ phim là sự kết hợp hài hòa giữa hình ảnh, âm nhạc, cách kể chuyện khéo léo giúp đan cài những thông điệp một cách sống động, không gượng ép. Về nội dung, “Tangled” không phải là một bước đột phá, dù đã có những thay đổi đáng kể. “Tangled” có thể nói là một kỳ quan trong lĩnh vực phim hoạt hình, một sự kết hợp hoàn hảo giữa nội dung, hiệu ứng hình ảnh, hình ảnh và âm nhạc. Bộ phim này có thể nói đã mang lại rất nhiều cơ hội thú vị cho những hiệu ứng 3D tuyệt vời và đánh dấu bước tiến mới nhất của sự phát triển của công nghệ làm phim 3D tại Disney. Bộ phim cũng chăm sóc khá kỹ đến tuyến nhân vật phụ. Lần này hai nhân vật chú ngựa Maximus và tắc kè đều rất đáng yêu, khôn ngoan dù không hề hé răng nói ra lời nào. Nhân vật nữ – Rapuzel không là hình mẫu yếu đuối, trông chờ được cứu vớt, mà mạnh mẽ hơn và tự quyết định số phận bản thân. Ác mẫu Gothel không hế có quyền phép, đơn giản là một bà lão mang nỗi sợ hãi muôn đời của loài người: sự tuổi già và cái chết. Nếu nói đến thành công của “Tangled” thì không thể không kể đến những bài hát xen kẽ trong tình tiết phim, đúng như phong cách mà Walt Disney hay làm. Alan Menken đã không hổ danh là nhà soạn nhạc tài ba khi viết những bản nhạc vui vẻ như “I’ve got a dream”, nhẹ nhàng đầy tình cảm như “I see the light” hay hài hước như “Mother knows best”. Ca sĩ Mandy Moore sau một thời gian vắng bóng đã trở lại ấn tượng với ca khúc “I see the light”, song ca với Zachary Levy. Ca khúc này được đề cử cho mục “Nhạc phim xuất sắc nhất”, là đề cử duy nhất của “Tangled” ở lễ trao giải Oscar lần thứ 83. Nối tiếp những bản nhạc đã thành công của các phim “Little Mermaid”, “Beauty and the Beast”, “Aladin”, nhạc phim “Tangled” đã góp phần làm cho kho tàng âm nhạc của Walt Disney thêm phong phú. “Tangled” tiếp tục bổ sung vào “bộ sưu tập” công chúa của Disney một nàng Rapunzel mạnh mẽ và đáng yêu. Nếu có thể, bạn đừng chờ đợi thêm nữa để bước vào cuộc phiêu lưu kì diệu này.

[2012] Resident Evil : Damnation

4209

Biohazard: Damnation là phim anime đồ họa vi tính phát hành năm 2012 được thực hiện bởi hãng Capcom và Sony Pictures Entertainment, Kamiya Makoto đảm nhận vai trò đạo diễn và việc sản xuất được điều hành bởi Kobayashi Hiroyuki. Đây là phim đồ họa thứ hai sau Biohazard: Degeneration trong dòng trò chơi Resident Evil. Năm 2012 có thể nói là một năm tuyệt vời cho các game thủ, các fan “cứng” của series game kinh dị Resident Evil. Chỉ trong vòng hơn nửa năm, lần lượt 4 tác phẩm giải trí được đóng mác Resident Evil đã lần lượt ra mắt người hâm mộ. Ban đầu phim không được công chiếu ở mà được phát hành thẳng thành các đĩa DVD và có thể tải về trực tiếp trên mạng từ Xbox Live, Zune và PlayStation Network vào ngày 25 tháng 9 năm 2012. Sau đó mới công đó công chiếu tại các rạp ở Nhật Bản vào ngày 27 tháng 10 năm 2012. Lấy bối cảnh thời gian nằm giữa hai trò Biohazard 5 và Biohazard 6. Với cốt truyện trong lịch sử giả tưởng nơi một số nước Đông Âu thuộc Liên Xô khi tan rã đã tập hợp nhau lại và thành lập nên Cộng hòa Đông Slav nhưng sau đó một cuộc nội chiến kéo dài đã diễn ra do sự phân hóa xã hội quá sâu sắc trong cộng hòa mới này. Sự trở lại của Leon Kennedy trong Damnation là màn dạo đầu quá tuyệt vời, đóng vai trò phát súng hiệu mở đường cho ngày ra mắt Resident Evil 6 đang đến rất gần. Điều đáng nói ở đây, và cũng là lý do khiến cho Leon Kennedy phải hiện diện ở quốc gia này, đó là trên chiến tuyến, những lời đồn đại về việc những con “quái vật” tham gia chiến đấu. Sau khi có báo cáo về những con quái vật như những vũ khí sinh học bắt đầu xuất hiện và tham gia giết chóc trong cuộc nội chiến này thì Leon S.Kennedy (nhân vật chính trong các trò chơi trước) đã được phái đến một cách bí mật để điều tra. Tại đây anh tìm thấy việc quân nổi dậy sử dụng thử nghiệm một loại ký sinh trùng mới, trong thời gian tìm cách khống chế điều khiển vật chủ thì vật chủ có thể sử dụng khả năng của loại ký sinh này để điều khiển các quái vật khác xung quanh để chúng không giết chóc lung tung như khi hoang dã và sử dụng chúng như một loại vũ khí, còn chính phủ cũng bí mật phát triển loại vũ khí này nhưng quy mô hơn trong đó có những quái vật Tyrat hình người khổng lồ trông như lực sĩ và tất cả đều để phục vụ cho cuộc chiến tranh không khoan nhượng giữa hai bên. Resident Evil: Degeneration ra mắt vào năm 2008 tuy sở hữu cốt truyện chặt chẽ, nhưng phần animation, nhất là cử động quá thô kệch của nhân vật đã vô tình làm bộ phim mất điểm với cả những fan cứng của dòng game lẫn các nhà phê bình điện ảnh. Quyết tâm sửa chữa lỗi lầm, trong Damnation, nhờ vào nỗ lực của nhóm motion capture thuộc studio Digital Frontier, cử động của các nhân vật trong phim đã trở nên mượt mà hơn rất nhiều, từ bước chạy của Leon đến dáng đi lê lết của các Ganado (vật chủ bị Plaga ký sinh). Sau hai tuần công chiếu thì phim đã thu về 1.465.577$. Phim cũng dành một phần kết thúc để giới thiệu Biohazard 6 có cốt truyện nối tiếp từ phim. Vì là một bộ phim ứng dụng công nghệ 3D, nên studio thực hiện bộ phim đã cố gắng tận dụng tối đa những cảnh quay có khả năng mang lại hiệu ứng chân thực nhất cho người xem. Kết quả là chúng ta được thưởng thức một bộ phim với… bạt ngàn những cảnh 3D. Từ cảnh những con Licker giơ móng vuốt quơ trượt con mồi, đến cảnh Ada Wong giơ chân đá văng chiếc bàn có tách trà về phía bà tổng thống. Thêm vào đó là những đoạn cận cảnh nạn nhân của Plaga bị biến đổi, khá “lạnh sống lưng”. Mô hình những con quái vật cũng được dựng lại hoàn toàn so với những nguyên mẫu đã xuất hiện trong các tựa game trước đây. Đơn cử như Licker, loại quái vật xuất hiện nhiều nhất trong tựa phim. Chúng đã trở nên thon thả hơn, nhưng đường nét cơ bắp lại được nhấn mạnh cùng với bộ móng vuốt khổng lồ. Bên cạnh đó, những gã Tyrat khổng lồ lại sở hữu “cơ bụng 6 múi” và bộ đồ Power Limiter đậm chất retro của những năm 70 của thế kỷ trước. Các “chàng” Tyrant trở nên giống con người hơn khi không có quá nhiều nét dị dạng so với game, chúng khá giống những lực sỹ đứng trên võ đài với nước da xám xịt và vẻ mặt lạnh như tiền. Dù rằng cốt truyện và cách thực hiện bộ phim không có gì đáng phàn nàn, đặc biệt là cảnh so tài giữa Ada Wong và bà tổng thống Svetlana Belikova, thế nhưng phim lại chứa đựng một hạt sạn mà ai cũng có thể nhận ra đó là ưu ái quá lớn từ Capcom dành cho nhân vật chính của chúng ta, Leon Kennedy. Sau khi bị Tyrant túm lấy và tặng cho 2 cú thôi sơn, bằng một phép màu nào đó, Leon vẫn đủ sức cõng người bạn đồng hành Buddy để tiếp tục chạy trốn khỏi những gã khổng lồ cực kỳ nguy hiểm. Bốn năm (2 năm phát triển, Damnation được giới thiệu vào năm 2010) là khoảng thời gian khá dài để Digital Frontier đem lại những thay đổi sáng giá cho bộ phim Computer Graphic thứ hai của series game Resident Evil. Đồ họa 3D ấn tượng, cử động nhân vật uyển chuyển cùng với cốt truyện hoàn toàn có thể hỗ trợ cho tựa game đã biến Resident Evil Damnation trở thành một khúc dạo đầu hoàn mỹ cho những fan Resident Evil.

Ballerina

4209

Ra mắt từ cuối năm 2016 nhưng đến ngày 10.3 vừa qua, Ballerina mới chính thức được phát hành tại Việt Nam với cái tên Vũ điệu thần tiên. Đổ bộ rạp chiếu cùng ngày với siêu phẩm Kong: Skull Island, Ballerina nhỏ bé giống như một cô gái đứng trước một gã khổng lồ đầy sức mạnh, nhưng không phải vì thế mà lại bị khán giả lãng quên. Ballerina là giấc mơ được gửi gắm của ba nhân vật chính: Felicie, Victor và Camille; cũng là bản hòa ca đầy ý nghĩa về cuộc sống. Vượt qua cả một bộ phim hoạt hình dành cho trẻ nhỏ, Ballerina còn là lời nhắn gửi tới các bậc phụ huynh, những bậc làm cha làm mẹ hãy giữ lấy những uớc mơ cho con trẻ. Bộ phim hoạt hình kể về Felicie, một cô bé sống trong trại mô côi ở vùng nông thôn Brittany, có một đam mê cháy bỏng với ballet. Dù không được đào tạo nhưng cô có 1 ước mơ không tưởng là trở thành diễn viên múa ballet hàng đầu tại nhà hát Opera ở kinh đô Paris vốn là nơi chỉ dành cho tầng lớp quý tộc. Ballerina không chỉ là một bộ phim hoạt hình dành cho trẻ em mà còn phù hợp với tất cả người trẻ tuổi bởi những bài học đắt giá về cuộc sống ẩn chứa trong đó. Hành trình chinh phục ước mơ của hai đứa trẻ mồ côi Felicie và Victor chắc chắn sẽ lay động hàng triệu con tim và khiến khán giả phải dừng lại suy ngẫm. Bản thân bộ phim dung dị và ấm áp này có sức hút của riêng nó và đã kéo được nhiều người xem đến rạp, rồi ra về với tâm trạng lâng lâng, hạnh phúc bởi được thưởng thức một tác phẩm ngọt ngào. Thực ra, đề tài của Ballerina không lạ: Félicie Milliner, một cô gái nghèo mồ côi có niềm đam mê nhảy múa, và cô luôn tìm cách để theo đuổi ước mơ đó. Cô bé Felicie muốn được theo học trường nghệ thuật ballet danh tiếng ở thủ đô Paris, còn Victor – niềm vui của cậu đơn giản là được làm vỉệc với các thể loại máy móc và phát minh ra những đồ vật chưa – một – ai – dám – làm. Không có chút gì trong tay ngoài đam mê, gần như là không tưởng để đạt được ước mơ của mình. Felicie vẫn mạnh dạn cùng Victor, người luôn muốn trở thành một nhà phát minh tài ba, phác thảo 1 kế hoạch điên rồ, trốn khỏi trại trẻ mồ côi, nhảy tàu hỏa lậu, chui lủi trong thùng táo rong ruổi trên cỗ xe ngựa để rồi cũng đến được Paris hoa lệ, nơi bắt đầu cho giấc mơ ballet của mình. Bộ phim như một liều thuốc dành cho tâm hồn, giúp đánh thức những ước mơ vô tình bị chôn vùi, nuôi dưỡng chúng bằng nỗ lực, để rồi cuối cùng, biến tất cả những ước mơ đó thành hiện thực. Lớn lên dưới mái nhà cô nhi viện, phải chịu đựng những lời vùi dập mỗi khi nhảy múa, nhưng những điều này không hề ảnh hưởng tới quyết tâm theo đuổi ước mơ của cô bé Felicie: Được học ballet chuyên nghiệp và trở thành một vũ công xuất sắc! Félicie Milliner có một trái tim tràn đầy nhiệt huyết cùng một năng lượng nhảy múa vô biên, thế nhưng, cái cô không có chính là kỹ thuật và sự khổ luyện. Và cũng vì thế mà hành trình theo đuổi ước mơ làm vũ công ballet của cô đã không hề dễ dàng chút nào, nếu không muốn nói là chất chứa quá nhiều thất bại, bẽ bàng… Thực tế, những uớc mơ luôn bị vùi dập không thương tiếc, vì số phận, vì địa vị, chỗ đứng và đơn giản hơn – thiếu tiền, thiếu điều kiện để đi lên. Với những người bình thường khó khăn là một, còn với một cô bé mồ côi như Felicie thì khó khăn ấy phải tăng lên gấp bội. Bất kỳ ai cũng có những năm tháng tuổi trẻ nông nổi, cuồng nhiệt với nhiều ước nguyện tưởng chừng là huyễn hoặc. Nhưng trên con đường trưởng thành, cuộc sống trở nên khó khăn hơn khi phải lao vào vòng xoay cơm áo gạo tiền, chúng ta dần hướng tới những điều an toàn, những giấc mơ ít rủi ro và đôi khi không phải của mình. Dù đề tài không quá mới mẻ, nhưng Ballerina lại chinh phục khán giả bằng lối kể chuyện dung dị đầy cảm xúc. Kết cấu kịch bản của tác phẩm được bày biện chặt chẽ với những nút thắt và mở gọn gàng. Người lớn, vô tình hay cố ý, đang dặt ra giới hạn cho những giấc mơ con trẻ. Họ lo lắng chúng bay quá cao, quá xa rồi vấp váp. Biết bao đam mê không được vun tưới hàng ngày sẽ dần mất đi lửa nhiệt huyết và bị quên lãng. Chi bằng hãy cứ mạnh dạn dám mơ, dám làm, biết đâu thành công gần ngay trước mắt. Các nhân vật được xây dựng cá tính rất đủ đầy và hợp lý, tất cả đều có lý do để xuất hiện trong câu chuyện và giúp câu chuyện được đẩy lên cao trào liên tục. Từ cô bé cùng tuổi kiêu kỳ Camille Le Haut, mụ nhà giàu độc ác Regine cho đến những nhân vật phụ như anh chàng bảnh mã Rudy hay giáo sư ballet Mérante đều được phân vai một cách trọn vẹn để giúp khán giả “thẩm thấu” hơn về thông điệp của tác phẩm. Bên cạnh đó, khán giả cũng sẽ rất yêu thích câu chuyện của cô bé nhà giàu Camille – một nhân vật phụ của bộ phim – nhưng vẫn cực kỳ hấp dẫn bởi cô bé có một “Số phận điển hình”. Camille sống trong một gia đình khá giả, xinh đẹp như một búp bê, được cha mẹ cho theo học trường tốt nhất, tập múa với những máy móc tốt nhất. Một tiểu thư Paris đài các cực kỳ xinh đẹp với mái tóc vàng óng ả, tập luyện chăm chỉ tới mức các động tác ballet gần như là hoàn hảo. Nhưng chính cô thừa nhận “Cô múa ballet vì mẹ cô muốn thế” và đây là thứ duy nhất cô không bằng Felicia, người múa ballet với tất cả tình yêu, từng động tác như hơi thở, nhịp đập của trái tim cô. Câu chuyện của hai cô bé Felicie và Camille, dù xuất thân trái ngược nhau nhưng cùng có một mục đích trở thành vũ công giỏi, đã cho ta thấy rằng, không thể biến nỗ lực của người khác thành nỗ lực của mình khi mà bản thân chẳng hề cố gắng. Đừng bao giờ bất chấp thủ đoạn, tước đoạt cơ hội của ai đó để rút ngắn con đường danh vọng của mình. Nhìn chung, bộ đôi đạo diễn người Pháp Eric Summer và Éric Warin đã có được một tác phẩm điện ảnh đầu tay khá đẹp và trọn vẹn. Nó không chỉ làm hài lòng người xem với một câu chuyện đong đầy cảm xúc mà còn giúp truyền cảm hứng cho những người trẻ, mở ra một thế giới mộng mơ nhưng cũng đầy thực tế về các vũ công ballet. Câu chuyện của Camille trong phim, cũng là câu chuyện của biết bao đứa trẻ ngoài đời thực. Với người lớn, thành công là khái niệm được gắn liền với một công việc ổn định, có thu nhập cao. Felicie đã chiến thắng Camille để dành vai diễn Clara trong vở Nutcraker. Cô bé tới Paris không phải để tìm kiếm thành công, cô đi theo tiếng gọi trái tim để kiếm tìm hạnh phúc. Bởi cuối cùng, chính tình yêu thuần khiết với ballet mới là điều giúp Felicie trở thành một vũ công tài giỏi. Vốn có xuất phát điểm chậm hơn các bạn cùng lớp, nhưng Felicie lại may mắn nhận được sự chỉ dạy tận tình của cô Odette – một vũ công đã bỏ nghề. Ban đầu Felicie không hiểu vì sao cô bắt tập đi tập lại những động tác kỳ quái như vừa phơi đồ vừa đi trên ống trục, nhảy lên chạm vào chiếc chuông treo trên cành cây…Nhưng kỳ thực, chẳng có bài học nào là vô ích cả. Chúng sẽ giúp Felicie giữ thăng bằng tốt và không bị chóng mặt khi xoay tròn nhiều vòng. Đến một ngày khi cơ thể đã quen với những chuyển động và cảm nhận được bài học trong từng nhịp thở, Felicie mới thực sự cảm thấy trân trọng tháng ngày khổ luyện ngoài sân cùng sự quan tâm mà cô Odette dành cho em. Và bộ phim, dù có cái kết rất happy-ending kiểu cổ tích nhưng cũng không quên nhắc nhở những người mộng mơ rằng thành công chưa bao giờ là một điều dễ dàng, tất cả đều phải khổ luyện và cố gắng theo đuổi tận cùng mới đạt được. Klaus Badelt, nhà soạn nhạc từng hợp tác với Hans Zimmer trong nhiều bộ phim như The Thin Red Line, The Prince of Egypt, Gladiator, Pirates of the Caribbean: The Curse of the Black Pearl… là người đảm trách âm nhạc cho Ballerina. Và dù là một tác phẩm nói về ballet nhưng Klaus Badelt cũng rất tiết chế việc sử dụng nhạc cổ điển và nhạc ballet truyền thống trong phim để tránh tạo ra cảm giác cũ kỹ. Ông muốn âm nhạc phải mang đến được cảm giác thuần khiết tươi mới, trẻ trung dù vẫn giữ nguyên tinh thần của ballet. Trong phim, khán giả sẽ được thưởng thức rất nhiều tác phẩm ấn tượng và có thể ăn sâu vào tiềm thức người nghe như You Know It’s About You do Chris Braide và Wrabel thể hiện, Sahnnon Reel do Daniel Darras và Youenn le Buerre thể hiện, Suitcase do Sia thể hiện… và rất nhiều ca khúc khác. Sự hòa trộn giữa chất pop đương đại và một chút phong vị và nhịp điệu cổ điển đã mang lại cho người xem nhiều bất ngờ. Đặc biệt, dù không xuất hiện trong album nhạc phim chính thức của Ballerinanhưng Cut to the Feeling của Carly Rae Jepsen cũng là một trong những bài hát được nhiều người yêu thích sau khi xem xong phim. Carly Rae Jepsen cũng chính là người lồng tiếng cho Odette, một cô gái từng là vũ công nhưng do tai nạn phải bỏ nghề, một vai diễn đầy cảm xúc mà Carly Rae Jepsen đã đảm nhiệm vô cùng trọn vẹn. Nếu câu chuyện của bộ phim Ballerina chính là điều đã khiến khán giả phải cảm động đến rơi nước mắt vì thương cho nhân vật chính, thì âm nhạc của tác phẩm này lại là liều thuốc chữa lành cho những vết thương nội tâm ấy. Ở thế hệ có rất nhiều sự lựa chọn cho tương lai như chúng ta, là một Felicie hay Camille đều là quyết định của mỗi người, một chút yếu tố còn lại chính là đặt ở niềm tin và sự mạnh mẽ khẳng định bản thân với gia đình. Có lẽ dù muốn hay không, chúng ta đều là những đứa trẻ đang cố gắng chứng minh sự trưởng thành của mình bằng những thành công đạt được, đó là một loại ngôn ngữ để chúng ta học cách nuôi dưỡng ước mơ, chia sẻ đam mê của mình với bậc phụ huynh. Chính hạnh phúc đã dẫn Felicie tới cánh cửa thành công. Nếu bạn yêu điều bạn đang làm, bạn nhất định sẽ thành công. Không có con đường nào tiến đến thành công lại trải đầy hoa hồng. Thế nhưng, mọi khó khăn chúng ta gặp phải đều có lý do, chỉ có mạnh mẽ đương đầu với thử thách ấy mới giúp bản thân thêm vững chãi.

Peter Pan

4209

“Đừng bao giờ nói tạm biệt bởi vì nói tạm biệt nghĩa là bỏ đi, và bỏ đi nghĩa là quên lãng…” Cậu bé biết bay và không chịu lớn Peter Pan xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1902 trong tác phẩm The Little White Bird của nhà văn J. M. Barrie. Phiên bản văn học của nhân vật này thật ra hơi đen tối và có nhiều tính xấu, nhưng khi Walt Disney mua lại bản quyền, ông đã biến câu chuyện trở nên tươi sáng hơn. Bộ phim “Peter Pan” được bắt đầu sản xuất từ trước Thế chiến thứ hai nhưng mãi đến năm 1953 mới chính thức được trình chiếu. Luôn luôn hấp tấp vội vàng, lúc nào cũng đội chiếc mũ bằng vải lụa, Peter Pan chỉ cho chúng ta thấy như thế nào là trẻ mãi. Tác phẩm văn học là quyển sách gối đầu của nhiều thế hệ thiếu nhi khắp thế giới, với vẻ đẹp mênh mang và nuối tiếc về tuổi thơ đã qua. Và bản phim hoạt hình của Disney đã biến những ước mơ ấy thành những hình ảnh sống động. Ai trong chúng ta chưa một lần mơ ước được mãi bé thơ và vui chơi, không phải đối diện với gánh nặng trưởng thành khi lớn lên? Thể loại : Hoạt hình, phiêu lưu, gia đình. Thời lượng : 76 phút. Công chiếu : 05/02/1953. Đạo diễn : Clyde Geronimi – Wilfred Jackson. Biên kịch : Milt Banta – William Cottrell. Hãng sản xuất : Walt Disney Productions. Wendy và hai em trai của cô bé đã được kéo tới thế giới ma thuật Neverland cùng với người anh hùng trong những câu chuyện của ba chị em, Peter Pan. Thế giới này đang diễn ra cuộc chiến giữa nhóm của Peter Pan với Thuyền trưởng Hook, một tên cướp biển xấu xa. Đây là bộ phim thứ 14 trong danh sách những bộ phim hoạt hình cổ điển của Walt Disney. Peter Pan cũng là bộ phim có chung dàn diễn viên ngôi sao lồng tiếng với phim hoạt hình Alice In Wonderland. Hình mẫu dễ mến của Peter Pan từ đó đã trở nên thân thuộc với bao thế hệ khán giả. Peter Pan có một cảnh kết xúc động, gợi đến đúng cảm giác mà quyển sách mang lại, khi mỗi người chúng ta phải tạm biệt vùng đất thần tiên của mình, để sống tiếp. BEGOOD SUBBING TEAM. VUI LÒNG KHÔNG SAO CHÉP HAY SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI. Đây là một trong số những bộ phim hấp dẫn, ma thuật nhất từng thấy! Khởi đầu ở London, nơi có một cô bé Wendy rất đúng mực chỉ còn lại một đêm được chăm sóc trước khi cô bé phải trưởng thành, ngủ riêng và học hỏi những cung cách của một thiếu nữ. Bố mẹ của cô bé, ông và bà Darling tới dự một bữa tiệc, và chú chó trông trẻ Nana bị nhốt ở ngoài cả đêm. Peter Pan đã tới đưa cô bé và hai người em của mình bay đi bằng chút bụi tiên của cô tiên bé nhỏ Tinker Bell, tới “ngôi sao thứ hai bên phải và cứ bay thẳng tới khi trời sáng,” để chỉ cho Wendy thấy làm trẻ con vui thú tới thế nào, và cho cô quyền lựa chọn ở lại hay trở về. Bộ phim đã được gửi đi tham dự Liên hoan Phim Cannes 1953. Câu chuyện đáng yêu này sẽ đưa bạn trở lại với tuổi thơ của mình và sẽ khó có thể quên được! Đây là bộ phim tuyệt vời mà cả người lớn và trẻ con đều có thể thưởng thức chung cùng với nhau. Rồi thì ai cũng sẽ phải lớn lên. Chỉ có Peter Pan và truyền thuyết về cậu là sẽ tồn tại mãi mãi! Translator : Rainbow Worm. Editor : Len Blue. Designer : Ngọc Trang Đinh. Encoder & Uploader : Lone Survivor.

Mulan – Mộc Lan

5270

Mộc Lan (tựa tiếng Anh : Mulan) là bộ phim hoạt hình thứ 36 của hãng Walt Disney, công chiếu vào ngày 19 tháng 06 năm 1998. Bộ phim nằm trong thời “Phục hưng” của hãng, được dựng theo truyền thuyết dân gian Trung Quốc về nhân vật nữ tướng Hoa Mộc Lan. Cô gái đã giả nam trang, thay người cha ốm yếu tòng quân. Với sự can đảm và khả năng võ thuật, Mộc Lan đã góp công lớn đánh tan kế hoạch xâm lược của kẻ thù. Bộ phim mở đầu với cảnh thủ lĩnh Hung Nô, Sơn Dục đen tối sang xâm lược Trung Hoa. Hoàng đế Trung Hoa ra lệnh cho truyền xuống mỗi gia đình phải có một người đàn ông đi lính. Cảnh sau đó chuyển sang nhà họ Hoa, khi cô con gái duy nhất của họ, Mộc Lan đang chuẩn bị để đi gặp bà mối. Cô đã chuẩn bị sẵn sàng nhưng thật không may cô lại thất bại trong cuộc khảo sát của bà mối. VUI LÒNG KHÔNG SAO CHÉP HAY SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI. Cha cô, ông Hoa Châu an ủi cô đúng khi quân đội đưa lệnh đi lính đến. Do không có con trai, ông Châu đã ghi tên vào danh sách bất chấp tuổi tác và bệnh tật của mình. Mộc Lan đã cải trang thành con trai và đi thế chỗ cha mình. Mộc Thư, một con rồng nhỏ đã đi cùng cô để lấy lại chức tước ban đầu của mình trong tổ tiên nhà họ Hoa bằng cách biến Mộc Lan thành anh hùng. Tướng quân Lí Tường bắt đầu một khóa huấn luyện và thực sự thất vọng vì khả năng của các anh lính. Anh ra lệnh cho Mộc Lan trở về nhà, nhưng cô đã khiến anh ấn tượng khi trèo lên cây cột cao với hai dây buộc đồng thau ở hai bên tay để lấy xuống mũi tên mà anh đã bắn lên đó. Đội lính được việc đó thôi thúc, đã trở thành nhóm lính giỏi. Giao, Linh và Trần Ba trở thành bạn của cô. Mộc Thư làm giả một bức thư, ra lệnh cho Lí Tường đưa quân tới cửa ải. Đội quân nhổ trại đi gặp Nguyên soái Lí, nhưng khi đến nơi thì ngôi làng ở cửa ải đã bị thiêu rụi và đội quân của Nguyên soái đã bị giết sạch, chính Nguyên soái cũng tử trận. Sơn Dục dẫn quân của mình ồ ạt tấn công toán quân của Lí Tường và chém được một nhát vào người Mộc Lan. Mộc Lan liền dùng quả pháo cuối cùng gây ra trận lở tuyết và chôn vùi toàn bộ quân Hung Nô dưới tuyết. Mộc Lan cứu Lí Tường và toán quân được an toàn. Cô ngất đi sau đó do vết thương của mình được chữa trị, cô bị lộ ra là phụ nữ. Thi Phú, cố vấn của Hoàng đế, yêu cầu Lí Tường xử tử Mộc Lan, nhưng anh tha cho cô vì ơn cứu mạng, cô bị đuổi khỏi nhóm lính. Đoàn quân quay lại kinh thành. Khi chuẩn bị quay về quê, Mộc Lan thấy Sơn Dục cùng 5 tên lính còn lại ngoi lên từ đám tuyết và tiến về kinh thành. Cô đi theo về để cảnh báo Lí Tường. Anh rất ngạc nhiên khi thấy Mộc Lan nhưng không nghe lời cảnh báo của cô. Mộc Lan thuyết phục người dân nhưng họ cũng không nghe. Sơn Dục cùng toán quân của hắn bắt Hoàng đế và rút vào cung điện. Mộc Lan dẫn Tường và Giao, Linh, Trần Ba (3 người cải trang thành cung nữ) vào cung bằng đường khác. Sau trận đánh nhau trong cung điện, Mộc Lan dụ được Sơn Dục lên nóc cung điện và khiến hắn mất mạng khi bị quả pháo của Mộc Thư bắn trúng. Hoàng đế và toàn thể mọi người đều kính trọng Mộc Lan. Để trọng thưởng cho công lao của cô, hoàng thượng sau này đã đưa cô dấu ấn của mình, ý muốn nhận cô làm công chúa và trở thành người kế thừa ngôi báu. Thế nhưng, Mộc Lan đã từ chối để trở về nhà đoàn tụ với gia đình. Mộc Lan trở về nhà, trao cho cha những thứ đó, nhưng ông Hoa Châu đã vứt chúng sang một bên, ôm lấy cô và nói rằng: “Có được người con gái như con chính là món quà tuyệt vời nhất”. Lí Tường, được Hoàng đế khuyên rằng: “Khanh sẽ không gặp được người phụ nữ nào như thế mỗi triều đại đâu”, đã đi tìm cô dưới cái cớ trả lại mũ trụ. Đạo diễn : Tony Bancroft – Barry Cook. Thời lượng : 88 phút. Thể loại : Hoạt hình, phiêu lưu, gia đình. Cảnh đầu của bộ phim lấy bối cảnh ở Vạn Lý Trường Thành, còn cảnh gần cuối phim thì lấy bối cảnh ở Tử Cấm Thành. Theo Robert D. San Souci, người nghiên cứu câu chuyện gốc, hãng Disney không mấy thích ý tưởng để một con rồng làm bạn với Mộc Lan, họ sợ trông nó sẽ quá thô và có vẻ ghê gớm. San Souci đã phải giải thích cặn kẽ với mọi người rằng rồng trong truyền thuyết của Trung Hoa không cụ thể kích thước, có thể to nhỏ tùy thích, vì thế rồng nhỏ Mộc Thư ra đời. Hoa Mộc Lan là một nhân vật rất nổi tiếng trong dân gian Trung Quốc, cô là hiện thân cho lòng dũng cảm của người phụ nữ. Là một cô gái mạnh mẽ dám nghĩ dám làm, Mộc Lan thuộc tuýp nhân vật có trí tuệ chứ không phải một cô công chúa xinh đẹp ngồi chờ hoàng tử của mình cưỡi bạch mã đến rước. Mộc Lan dám bộc bạch suy nghĩ của mình trái với những quy định của nền văn hóa Trung Hoa thời đó. Giờ đây, cô đã trở thành một trong những nữ nhân vật hoạt hình của Walt Disney được yêu thích nhất.

Lady and the Tramp : Tiểu thư và Chàng lang thang

4209

“Ôi đêm nay, là một đêm thật đẹp, và chúng tôi gọi là bella note…” Những lời đầu tiên của bài hát Bella Notte đã vang lên như vậy để mở đầu cho bộ phim Tiểu thư và Chàng lang thang (Lady and the Tramp), dựa theo truyện ngắn Happy Dan, The Whistling Dog của Ward Greene, bộ phim kể lại câu chuyện tình yêu của Lady và Tramp. Đây là tác phẩm ghi dấu ấn hai cái “đầu tiên” của hãng phim Walt Disney: bộ phim hoạt hình trình chiếu trên màn ảnh rộng đầu tiên và hoạt hình đầu tiên không dựng theo những câu chuyện hay tiểu thuyết kinh điển. Thể loại : Hoạt hình, phiêu lưu, hài hước. Thời lượng : 76 phút. Công chiếu : 22/06/1955. Đạo diễn : Clyde Geronimi – Wilfred Jackson. Biên kịch : Erdman Penner – Joe Rinaldi. Hãng sản xuất : Walt Disney Productions. Lady là một nàng cún loại Tây Ban Nha lông dài mượt, đôi tai to rủ xuống dịu dàng. Cô có tất cả những gì bất kỳ chú chó nhà nào cũng phải mơ ước: một bà chủ tốt, một căn nhà ấm áp, những người bạn đáng yêu… cho đến khi trong gia đình xuất hiện một thành viên mới. Đó là một em bé mới sinh – kẻ đã lấy đi sự quan tâm vốn chỉ dành cho Lady từ trước đến nay. Số phận trở nên nghiệt ngã hơn khi Dì Sarah, một người rất yêu mèo, đến trông nhà giúp bà chủ trong vài ngày. Hai chú tiểu hổ sinh đôi rất nghịch, chúng phá hoại lung tung và người bị đổ lỗi lại là Lady tội nghiệp. Cô bị hắt hủi tàn tệ và phải trốn chạy khi bị Dì Sarah dắt đi mua rọ mõm. Và thế là Lady bước vào một thế giới hoàn toàn khác không có nhiều màu hồng như cô vẫn thấy. May sao anh chàng chó lai lang thang Tramp xuất hiện làm thay đổi cuộc đời Lady. Tramp vốn là một chú chó sống tự do, không vướng bận chuồng nhốt hay vòng xích, cũng chẳng phải vẫy đuôi với người chủ nào. Tình cờ anh gặp Lady, cứu cô thoát khỏi bầy chó hoang và rủ cô cùng đi trong cuộc phiêu lưu không có đích đến của anh. Đôi bạn nhanh chóng nảy sinh tình cảm dù họ khác nhau quá nhiều. Để có một cái kết hạnh phúc, một trong hai chú cún này phải thay đổi bản thân. Vậy Lady quý phái sẽ từ bỏ mái ấm để “đi bụi” với Tramp hay anh chàng cún giang hồ chịu dừng bước phiêu lưu để “an cư lạc nghiệp” với nàng Lady xinh đẹp? Có thể bắt gặp trong Lady and the Tramp một nét gì đó quen thuộc của cuộc sống con người, đó là khoảng cách xã hội giữa “quý tộc” với “giang hồ”, đó là những hiểu lầm có thể thay đổi một số phận hay những giây phút lãng mạn của tình yêu đôi lứa. Ta cũng có thể nhận ra chi tiết mang phong cách cổ tích với ông chủ quán mì Ý nhân hậu hay hai người bạn tốt bụng dũng cảm Jock và Trusty của Lady. Sự kết hợp hoàn hảo giữa đời thường với cổ tích đã tạo nên một tác phẩm thành công cho Walt Disney. Lady and the Tramp là một bộ phim tinh cảm lãng mạn ngọt ngào với những nhân vật đáng yêu. Vốn là một sản phẩm của Walt Disney, hoạt hình này có nét vẽ rất đẹp và mềm mại, màu sắc cũng rực rỡ tươi sáng như thường lệ khiến ai nhìn cũng cảm thấy thích thú và dễ chịu. Bên cạnh đó, các ca khúc trong phim rất thành công, phần lớn là do Peggy Lee đồng sáng tác. Điểm khác biệt lớn nhất ở Lady and the Tramp so với những anh chị em cùng lò khác là không hề có nhân vật phản diện, có chăng chỉ là những cử chỉ quá đáng hay hành động đáng ghét của một số nhân vật. Vì thế sự thành công của những bộ phim không có mâu thuẫn hay đấu tranh kiểu này chủ yếu dựa vào hình ảnh và âm nhạc. Chính hai yếu tố này đã tạo nên chất lãng mạn tuyệt vời cho một câu chuyện tình ngọt ngào của hai chú cún. Một trong các cảnh khó quên của Lady and the Tramp là cảnh đôi bạn ăn chung, sợi mỳ thu ngắn dần và kết thúc bằng một nụ hôn. Nụ hôn đầy bất ngờ và trong sáng giữa hai nhân vật Lady và Tramp khi đang ăn mỳ spaghetti ở sân sau một nhà hàng Italy là nụ hôn nổi tiếng nhất trong các phim hoạt hình. Trong giai điệu đầy quyến rũ của ca khúc Bella Notte do hai người đầu bếp thể hiện, Lady và Tramp đều mơ màng nhìn lên bầu trời đêm đầy sao, để rồi khi chung nhau sợi mỳ, cả hai trở nên e thẹn, ngượng ngùng. Đến nay, những nụ hôn của hoàng tử, công chúa Disney hay thậm chí là nụ hôn của chằn tinh Shrek trong phần một vẫn chưa sánh được với nụ hôn trong Lady and The Tramp.

Bambi

4209

“Nếu con không thể nói được điều gì tốt đẹp, thì đừng nói gì nữa cả.” Bambi là bộ phim hoạt hình do hãng phim hoạt hình Mỹ Walt Disney sản xuất năm 1942 dựa trên cuốn sách “Bambi, A Life in the Woods” của tác giả Felix Salten. Bộ phim kể về cuộc sống của chú nai con tên là Bambi, được định mệnh giao cho nhiệm vụ là Vua của khu rừng. Bộ phim này được RKO Radio Pictures phát hành vào ngày 13/8/1942. Đây là bộ phim thứ 5 trong serie phim hoạt hình kinh điển của hãng Walt Disney. Thể loại : Hoạt hình, gia đình. Thời lượng : 70 phút. Đạo diễn : James Algar – Samuel Armstrong. Biên kịch : Perce Pearce – Larry Morey. Hãng sản xuất : Walt Disney Productions. Bambi có một cuộc sống tươi đẹp trong khu rừng và kết bạn muôn loài. Nhưng bất hạnh đến khi mẹ cậu qua đời trong một trận bão và rơi vào tay của thợ săn. Trải qua những thử thách, Bambi lớn lên, trở thành một chú nai dũng cảm, có cặp sừng oai vệ. Bambi đã thay cha nuôi trị vì khu rừng, đem lại bình yên cho muôn loài. Các nhân vật chính trong phim là Bambi, chú hươu có chiếc đuôi màu trắng, cùng cha mẹ. Còn các bạn bè là chú thỏ Thumper có chiếc mũi hồng, chồn hôi Flower và người bạn tên là Faline. Khi làm phim, hãng Disney đã thay đổi hình ảnh của Bambi so với truyện gốc – từ một chú hoẵng thành hươu đuôi trắng – để gần gũi với người Mỹ hơn. Bộ phim cũng là câu chuyện cảm động về tình mẫu tử, tình bạn. BamBi nhận được ba giải Oscar cho âm thanh hay nhất, bài hát hay nhất với ca khúc “Love Is a Song” và giải nhạc phim hay nhất. Cho đến nay, cảnh mẹ chú hươu Bambi bị bắn chết trong phim vẫn được xem là một trong những cảnh buồn thảm nhất trên màn bạc. Mặc dù phim không chiếu cảnh viên đạn của gã thợ săn bắn trúng mẹ Bambi, song cái chết của hươu mẹ vẫn là thời khắc không thể quên trong lịch sử điện ảnh khi Bambi và mẹ chạy trốn qua cánh đồng cỏ và hươu mẹ đã bị trúng đạn. “Mẹ?” – Bambi đã thất thanh gọi khi chú nhìn thấy hươu mẹ đang gục dần xuống tuyết. Cha nuôi của Bambi bước tới gần và an ủi con trai với giọng trầm ấm: “Mẹ con không còn ở bên con được nữa rồi. Con phải can đảm lên”. Câu chuyện trong phim được bắt đầu bằng cảnh Bambi chào đời, rồi đến cái chết của hươu mẹ, khu rừng bị cháy và cuối cùng là cảnh Bambi bắt đầu xây dựng gia đình riêng của mình. Song đáng nói, đây là bộ phim đầu tiên mà hãng Walt Disney đã phá bỏ “luật” khi khiến một nhân vật vô tội phải chết, chứ không chỉ là các phù thủy hay ác quỷ. Giới phê bình cho rằng, phim quá nặng nề và buồn đối với trẻ em. Còn giới đi săn thì phàn nàn về cách mô tả nhân vật quá cực đoan. Thế nhưng, nhà làm phim Disney bảo vệ quan điểm của mình và nói rằng ông trung thành với cuốn truyện gốc của nhà văn Felix Salten. Trong một cuộc phỏng vấn, Disney nói ông không tin rằng người ta phải thay đổi cốt lõi một vấn đề nào đó vì trẻ em, cho dù trong phim hay ngoài đời thực. Cựu thành viên nhóm nhạc huyền thoại The Beatles – Paul McCartney – sinh cùng năm với hươu Bambi, đã chứng nhận sức ảnh hưởng lâu dài của bộ phim. Ông xem bộ phim hoạt hình này từ khi còn nhỏ. Chính vì xem bộ phim này mà ông không hề “mặn mà” với trò đi săn và ông đã trở thành một nhà hoạt động vì quyền lợi của động vật. Cách biểu cảm trên gương mặt của Bambi, thỏ Thumper và các nhân vật khác được bắt chước từ sự biểu cảm của trẻ nhỏ. Song cũng chính vì chuyện này mà nhiều nhà phê bình chỉ trích các nhà làm phim đã ghép sự ngây thơ của con trẻ vào các động vật. Cho đến nay, Bambi vẫn là một trong những tác phẩm điện ảnh thành công nhất mọi thời đại và là một dấu mốc trong lịch sử điện ảnh. Dài 70 phút, phim Bambi được dàn dựng với kinh phí 858.000 USD và trình chiếu vào thời kỳ giữa Thế chiến II, song lại thất thu ngay từ đầu. Tuy nhiên, năm 1943 phim đã được đề cử 3 giải Oscar, gồm Âm thanh xuất sắc nhất (Sam Slyfield), Ca khúc hay nhất (Love Is A Song của Donald Novis) và Nhạc nền phim độc đáo nhất. Năm 1947, phim đã trở lại các rạp chiếu và lần này gặt hái thành công hơn. Đến nay, phim đã thu về được 267,4 triệu USD. Tháng 6/2008, phim Bambi đã lọt vào vị trí thứ 3 trong danh sách Top 10 Phim hoạt hình kinh điển của Viện Điện ảnh Mỹ. Tháng 12/2011, phim đã được đưa vào Trung tâm Lưu trữ Điện ảnh Quốc gia của Thư viện Quốc hội Mỹ.

101 Chú Chó Đốm

4786

“Mẹ ơi, con đói. Con thật sự đói. Con rất đói đến mức con có thể ăn… cả một con voi.” 101 Chú chó đốm (tiếng Anh: One Hundred and One Dalmatians) là một phim hoạt hình sản xuất bởi Walt Disney dựa vào câu truyện cùng tên của Dodie Smith. Câu chuyện bắt đầu ở London trong thập niên 1960, một chú chó đốm tên là Pongo sống cùng người chủ là một nhạc sĩ độc thân thích hút tẩu tên là Roger Radcliff. Chú cún Pongo mong muốn chấm dứt đời sống độc thân cho cậu chủ và mình nên đã để mắt “truy tìm đối tượng” cho tới khi phát hiện ra một cặp đôi lộng lẫy : một cô gái xinh đẹp và một cô chó đốm thanh mảnh. Pongo đã giở mánh khóe lôi Roger ra khỏi nhà, giả vờ tới ngồi trong công viên để “vô tình” gặp Anita và cô chó đốm Purdy. Duyên số đưa đẩy họ đến với nhau và hai lễ cưới của chủ và cún đã diễn ra hết sức hạnh phúc. 101 chú chó đốm là một trong số ít phim hoạt hình ca ngợi mối tình lãng mạn của cả hai đôi nhân vật trong phim. Chuyện phim lúc mở đầu không chỉ nói đến mối tình của 2 chú chó đốm Pongo và Perdita mà còn tập trung nói đến mối tình say đắm của hai người chủ của hai chú chó này là Roger và Anita. Đây là bản phim duyên dáng nhất mà Walt Disney đã từng làm. Pongo và Perdita đã cùng có với nhau 15 chú cún con. Cruella De Vil bạn học cũ của Anita, đồng thời cũng là một người đàn bà giàu có độc ác đam mê áo long đã thể hiện sự thích thú của mình với những chú cún con, vì bà ta đang muốn làm cho mình một chiếc áo lông chó đốm thật đẹp. Vì thế bà ta muốn có tất cả các chú cún con, đồng thời mua thêm cún từ nhiều nơi khác… Nhưng sau khi bị Roger từ chối, bà ta đã thuê những tên trộm đến bắt các chú cún con và nhốt chúng trong căn biệt thự ở vùng quê xa xôi của mình. Liệu Pongo và Perdita sẽ kịp thời tìm thấy những đứa con của mình chứ ? Thể loại : Hoạt hình, phiêu lưu, hài hước. Thời lượng : 79 phút. Công chiếu : 25/01/1961. Đạo diễn : Clyde Geronimi – Hamilton Luske. Biên kịch : Bill Peet – Dodie Smith. Hãng sản xuất : Walt Disney. Trong bộ phim 101 Chú chó đốm, Pongo có 72 đốm còn Perdita có 68 đốm. 99 chú chó đốm con đều có 32 đốm. Tổng cộng số đốm xuất hiện trong suốt bộ phim là 6.469.952 đốm. Bộ phim đã cho thấy sự mê hoặc không thể xóa bỏ trong nỗ lực và nhiệt huyết của những nhà làm phim của Walt Disney nhằm tạo ra những nét vẽ đầy sáng tạo. Bộ phim chính là thành quả thành công nhất của những nỗ lực sáng tạo chăm chỉ và miệt mài ấy. 101 Chú chó đốm cũng trở thành một trong số những bộ phim được yêu thích nhất của Nhà Chuột. Và Cruella là nhân vật phản diện thứ hai sau Maleficent của Sleeping Beauty, trở thành kẻ xấu được nhiều trẻ em trên thế giới ghi nhớ, đồng thời cũng có rất nhiều người trưởng thành có ấn tượng về nhân vật này. Tình yêu, sự nỗ lực và đồng lòng của Pongo và Perdita, tất cả chặng đường và những khó khăn, những phát kiến của cặp đôi trên hành trình họ đã trải qua để bảo vệ cho những chú cún con là hình tượng ghi dấu một thời trong lòng người xem. Nó nhắc nhở cho mọi người về tình yêu trong cuộc hôn nhân của họ, và cách mà họ phải cùng nhau vượt qua tất cả những sóng gió và trên hết là yêu thương nhau, yêu thương con cái để đưa gia đình mình tới những ngày hạnh phúc bình an cuối cùng giống như đoạn kết phim hạnh phúc mà gia đình Roger – Anita, Pongo – Perdita đã có. Bộ phim đã để lại những cảm xúc thật sự sâu sắc trong lòng người xem. Translator : Rainbow Worm. Editor : Len Blue. Encoder & Uploader : Lone Survivor. Designer : Ngọc Trang Đinh.

Kubo And The Two Strings – Kubo Và Sứ Mệnh Samurai

4209

Trung thành với những câu chuyện đơn giản nhưng chan chứa cảm xúc cùng phương pháp làm phim Stop-Motion, Laika tiếp tục khiến khán giả choáng ngợp với những trải nghiệm phiêu lưu và bối cảnh kỳ ảo trong tác phẩm mới – Kubo and the Two Strings. Dựa trên một tích cổ của Nhật Bản, Kubo and the Two Strings mở đầu bằng giọng nói của Kubo: “Nếu bạn phải chớp mắt, thì hãy làm ngay đi”, đưa người xem vào hành trình của cậu bé. Kubo and the Two Strings lấy bối cảnh nước Nhật thời cổ đại. Bộ phim theo chân Kubo (Art Parkinson) – cậu bé 11 tuổi sống cùng mẹ trong một hang đá tách biệt trên núi. Không giống những đứa trẻ ngây thơ sống tại ngôi làng ven biển của nước Nhật cổ, Kubo sớm phải kiếm tiền chăm sóc mẹ ốm yếu. Mỗi sáng, cậu ra khu chợ gần nhà kể chuyện cho bà con nghe với cây đàn Shamisen (loại nhạc cụ ba dây cổ của Nhật). Kubo thừa hưởng khả năng điều khiển giấy bằng cây đàn từ người mẹ. Mẹ của Kubo vốn là tiên nữ và là con gái của Vua Mặt trăng. Kubo có một quá khứ bí ẩn. Khán giả chỉ được biết người mẹ khốn khổ từng ôm cậu vượt biển. Kubo luôn được căn dặn rằng phải trở về hang đá trước khi trời tối, để tránh bị Vua Mặt trăng (Ralph Fiennes) phát hiện ra. Đến một ngày, cậu quên mất lời dặn dò ấy, và những kẻ thù cũ bắt đầu tìm đến để truy sát mẹ con cậu. Từ đây, Kubo một mình bước tiếp trên hành trình đi tìm vũ khí của cha, lý giải những bí ẩn trong quá khứ và chiến đấu với Vua Trăng độc ác – cũng chính là ông ngoại cậu. Trên đường chạy trốn, Kubo nhận được sự trợ giúp từ Bà Khỉ (Charlize Theron) cùng chiến binh Samurai – Bọ (Matthew McConaughey). Không có danh sách phim hoạt hình đồ sộ, nhưng bất kỳ sản phẩm nào xuất xưởng Laika cũng mang lại hiệu ứng tốt từ khán giả lẫn giới chuyên môn. Kubo và Sứ mệnh Samurai , là bộ phim thứ 4 của hãng, sau các tựa phim đã từng được đề cử giải Oscar như Coraline (2009), Paranorman (2012), The Boxtrolls (2014). Kết cấu phim được chia làm ba phần khá rõ ràng. “Hiềm khích ngầm” giữa Khỉ và Bọ trên đường đi góp phần tạo nên những chi tiết hài hước. Các phim của Laika không chỉ được đánh giá cao bởi sự tỉ mỉ, công phu trong quá trình thực hiện, mà còn vì nội dung khác biệt, đa dạng và đen tối hơn hẳn so với nhiều tác phẩm cùng thể loại. Trên thực tế, câu chuyện của Kubo and the Two Strings khá u ám và nghiệt ngã. Được nhận định là tác phẩm xuất sắc nhất từ trước đến nay của hãng phim Laika, Kubo and the Two Strings đã hoàn toàn chinh phục được người xem bởi nội dung chặt chẽ, cuốn hút và hình ảnh tráng lệ đến tuyệt đẹp. Cốt truyện của bộ phim tuy đơn giản nhưng không vì vậy mà mất đi sự hấp dẫn do tình tiết được úp mở một cách khéo léo và dần dần hé lộ theo thời gian. Laika dành ra nửa thập kỷ để chuẩn bị và thực hiện Kubo và Sứ mệnh Samurai, khán giả sẽ khó lòng phân biệt những đại cảnh thiên nhiên đẹp rạng ngời đến chi tiết tạo hình nhân vật phần lớn đều được làm bằng mô hình đất sét và giấy. Đại cảnh cảnh choáng ngợp, hùng vĩ như một miền tuyết trắng xóa rít gió, khu rừng xanh mướt trải rộng hay một buổi chiều hoàng hôn trên đỉnh núi đều là thành phẩm của một đội ngũ sáng tạo không ngừng nghỉ với công nghệ làm phim “lạc thời”: stop-motion. Phân cảnh ấn tượng nhất là các pha hành động trước các quái vật muôn hình vạn trạng – khi là bộ xương khổng lồ trong hang động với hàng chục thanh kiếm găm trên đầu, lúc là muôn nghìn nhãn quang bủa vây dưới đáy biển… “Câu chuyện cần một hồi kết” – đó chính là yêu cầu của dân làng mỗi khi Kubo bỏ dở câu chuyện cậu kể ở chợ, cũng là điều Laika cố gắng gây ấn tượng trong tác phẩm này. Đưa bộ phim trở lại mô-típ thông thường, nhưng Laika không để Kubo and the Two Strings trở nên khuôn sáo hay dễ đoán. Cách xử lý xung đột cuối cùng không quá bất ngờ, nhưng lại rất sâu sắc và đậm chất nhân văn. Đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, khán giả không thể đoán biết được tình tiết gì sẽ xảy ra tiếp theo trong mạch phim. Bên cạnh đó, đối với những ai yêu mến đất nước hoa anh đào, Kubo and Two Strings chắc chắn là một tác phẩm hoạt hình “nhất định phải xem”. Với một bộ phim có chi phí 60 triệu đô nhưng tinh thần phim không hề nhỏ, phía sau một sản phẩm vừa đẹp cả hình ảnh lẫn nội dung như Kubo và Sứ mệnh Samurai, thì điều đáng được gợi tới nhiều nhất chính là quá trình sáng tạo của đội ngũ xưởng phim Laika. Qua đoạn credit về việc tạo hình bộ xương khổng lồ biết cử động được gửi gắm ở cuối phim, người xem đều thấy được sự nhẫn nại và tâm huyết với nghề mà Laika luôn theo đuổi. Phần kết là cuộc chiến được dàn dựng với màu sắc kỳ ảo nhiều hơn là kịch tính. Cậu bé không chỉ chiến đấu với kẻ thù mà còn phải đấu tranh để khai sáng tâm trí mình. Có thể nói Kubo and the Two Strings không đơn thuần là câu chuyện giữa cái thiện và cái ác. Xuyên suốt bộ phim, mỗi sự kiện diễn ra, mỗi hành động hay lý tưởng của các nhân vật thể hiện, đều được đạo diễn xây dựng với dụng ý cài cắm rất khéo léo. Sự cuốn hút của Kubo and Two Strings còn đến từ các phân cảnh biểu lộ tình cảm gia đình đầy ấm áp, tạo cảm giác dễ chịu đến lạ kì cho người xem. Xuyên suốt bộ phim là những câu thoại đơn giản, tự nhiên, không chút màu mè hay cố tình “tỏ ra sâu sắc” nhưng ý nghĩa của nó lại có khả năng đi sâu vào tâm trí khán giả. Những nút thắt về thân phận được hóa giải, sức mạnh từ quá khứ cùng các triết lý Á Đông về gia đình, lòng bao dung hòa trộn tạo nên cái kết trọn vẹn. Thông qua trải nghiệm của bản thân các nhân vật, bộ phim đem đến cho khán giả nhiều bài học hay chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc sống. Nhiều lý tưởng được bộ phim hình tượng hóa và thể hiện cụ thể thông qua những hình ảnh ẩn dụ, trong đó một số chỉ được nói đến ngắn gọn, đòi hỏi khán giả phải tự mình trải nghiệm và nhận ra. Bên cạnh đó, Kubo and the Two Strings còn vượt trội hơn hẳn nếu so với những bộ phim trong thể loại stop motion nằm ở mảng hình ảnh. Những bộ phim Stop Motion trước đều bị hạn chế khá nhiều ở mảng chuyển động nhân vật nên bạn sẽ thấy rất ít cảnh chiến đấu trong các bộ phim thể loại này. Nhưng Kubo and The Two Strings lại làm điều hoàn toàn ngược lại gần 2/3 thời lượng chỉ xoay quanh những trận chiến khốc liệt của Kubo cùng hai đồng minh của mình với các thế lực ma quỷ. Những pha cận chiến vốn dĩ là thế mạnh của các phim 3D hoặc phim võ thuật và các bom tấn với sự hỗ trợ của kỹ xảo CGI thì nay lại được thể hiện cực kỳ mượt mà và uyển chuyển trong một tác phẩm stop motion. Dẫu sao thì, những điều đẹp như kỹ thuật stop-motion vẫn cần được trân trọng và nên tiếp tục giữ lửa trong thị trường phim hoạt hình đã phần nào ngao ngán với các công nghệ 3D, CGI tân tiến hiện nay. Translator : Len Blue. Encoder : Lone Survivor. Uploader : Lone Survivor – Len Blue. Designer : Ngọc Trang Đinh.

Alice In Wonderland

4516

“Có một nơi. Chẳng giống nơi nào trên Trái đất. Một vùng đất đầy những điều tuyệt diệu, bí ẩn và nguy hiểm!” Alice In Wonderland là một bộ phim hoạt hình âm nhạc viễn tưởng của Mỹ công chiếu vào năm 1951 được sản xuất bởi Walt Disney Productions dựa trên cuốn sách Alice’s Adventures In Wonderland của nhà văn Lewis Carroll. Là bộ phim hoạt hình đặc sắc thứ 13 của Disney, bộ phim đã được công chiếu tại thành phố New York và London vào ngày 26 tháng Bảy năm 1951. Câu chuyện kể về cô bé Alice chui qua một hang thỏ rồi lạc vào thế giới thần tiên có những sinh vật kì lạ. Cô bé sẽ trở về nhà được chứ? Thể loại : Hoạt hình, phiêu lưu, gia đình. Thời lượng : 75 phút. Đạo diễn : Clyde Geronimi – Wilfred Jackson. Biên kịch : Milt Banta – Del Connell. Khi theo dõi bộ phim hoạt hình Alice Lạc Vào Xứ Sở Thần Tiên phiên bản 1951, rất nhiều khán giả nhí ấn tượng với ngoại hình đáng yêu cùng giọng nói ngọt ngào của cô bé Alice tóc vàng. Để tạo nên một Alice như vậy, “cha đẻ” Walt Disney đã xây dựng nên nhân vật này từ một nguyên mẫu có thực mang tên Kathryn Beaumont. Vào năm 1998, bà được công ty Walt Disney đưa vào danh sách những “huyền thoại Disney”. Năm Beaumont lên 10 tuổi, bà đã được lựa chọn để lồng tiếng cho Alice. Bị ấn tượng bởi vẻ ngoài xinh xắn của bà, Walt Disney ngỏ ý muốn Kathryn là người mẫu để ông vẽ nên nhân vật Alice. Nghe chị đọc truyện, Alice cảm thấy thật mệt mỏi. Mới nhắm mắt lại, cô bé đã thấy một chú thỏ trắng hối hả chạy ngang qua vừa nhìn vào đồng hồ bỏ túi vừa lầm bầm một mình. Thế là cô bé chạy theo sau thỏ trắng vào trong cái hang thỏ bên dưới một gốc cây to. Và cô bé rơi xuống, dường như rơi xuống tận tâm Trái Đất vậy. Nhưng khi Alice rớt bịch xuống, Thỏ Trắng cũng vừa biến mất sau một cấnh cửa nhỏ xíu dẫn ra một vườn hoa tuyệt đẹp nhưng cô không thể nào chui lọt được. Alice uống nước trong cái chai “Uống tôi đi” trên bàn và người cô bé thu lại nhỏ xíu. Nhưng giờ cô lại quá nhỏ để với được cái chìa khoá trên bàn. Cô ăn cái bánh “Ăn tôi đi” và thầm nghĩ nếu nó làm cô nhỏ hơn, cô sẽ chui qua được cánh cửa, còn nếu ngược lại thì cô sẽ với được cái chìa khoá. Miếng bánh là Alice cao đến nỗi đầu cô cụng phải trần nhà. Không biết phải làm thế nào, cô bật khóc. Nước mắt cô chảy thành suối. Rồi cô lại tìm được cái chai, uống nước và thu nhỏ lại. Alice bơi trong suối nước mắt và qua cửa. Khi qua được cánh cửa, Alice bước vào một thế giới thần tiên với rất nhiều sinh vật kỳ lạ: Những chú chim biết nói, bác sâu bướm phì phèo khói thuốc và nói những câu chuyện kỳ quặc, một chú mèo đáng sợ lúc nào cũng cười ngoác miệng, người làm mũ và thỏ rừng điên rồ. Kế đến, cô bé gặp được Hoàng hậu Cơ và quân lính là những quân bài. Nhiều chuyện hỗn loạn xảy ra. Liệu cô bé có vĩnh viễn phải ở lại trong thế giới này, thế giới này có thật hay không có thật? Nụ cười nham nhở của Cheshire đã ám ảnh không biết bao nhiêu đứa trẻ mỗi đêm trăng khuyết. Cheshire trong thế giới Wonderland luôn có hành tung rất bí ẩn, thường xuyên xuất hiện khi người khác không ngờ tới, đưa ra những lời khuyên mờ ám và dường như chẳng có mục tiêu tốt đẹp. Nhiều người tin rằng ngay từ đầu, những lời chỉ dẫn của Cheshire chỉ nhằm đưa Alice vào rắc rối, rơi vào móng vuốt của Nữ hoàng Cơ. Dù mọi nhân vật của Wonderland đều kỳ quái, sự thoắt ẩn thoắt hiện của Cheshire vẫn làm ớn lạnh khán giả mọi thời. Một cảnh phim gây tranh cãi nhiều nhất của Disney là phân cảnh Alice gặp một chú sâu đang hút thuốc lá từ bình shisha trong bộ phim hoạt hình Alice in wonderland (1951). Cảnh phim này bị đánh giá là hoàn toàn không phù hợp với một bộ phim hoạt hình. Hơn nữa, cảnh chú sâu nằm trên một cây nấm khủng lồ đang hút shisha khiến nhiều khán giả đã suy luận bộ phim có những ám chỉ về một xứ sở hưởng thụ với các loại chất kích thích cũng như gây nghiện. Alice In Wonderland 1951 được đánh giá là một trong những phiên bản chuyển thể từ cuốn sách dành cho trẻ em thành công nhất. Trước đó, Walt Disney từng định thực hiện dự án live-action xen lẫn hoạt hình cho Alice In Wonderland nhưng rồi ông đã thay đổi ý định này của mình. Vào thời điểm phim ra mắt, cha đẻ của “nhà chuột” từng bị cộng đồng người hâm mộ nhà văn Lewis Carroll chỉ trích vì đã “Mỹ hóa” một trong những tượng đài văn học của nước Anh. Do vậy, tác phẩm đã không dành được thành công như kỳ vọng. Trước sự gay gắt từ phía dư luận, Walt Disney cho biết, ông đã lường trước được việc này và phiên bản Alice của ông hướng đến mục tiêu trở thành một bộ phim dành cho gia đình. Tuy nhiên vào năm 1974, Disney một lần nữa tái trình chiếu Alice In Wonderland và nhận được sự chú ý từ giới truyền thông cùng người xem. Bộ phim được khán giả đón nhận cũng như trở thành tác phẩm hoạt hình nổi bật nhất của Disney lúc bấy giờ. Giờ đây khi nhắc đến những bộ phim hoạt hình kinh điển của Disney, chắc chắn không thể thiếu vắng Alice in Wonderland. Translator : Rainbow Worm. Editor : Len Blue. Designer : Ngọc Trang Đinh. Encoder & Uploader : Lone Survivor.

Pinocchio

5264

“Hãy luôn để lương tâm dẫn lối cho bạn…” Hình ảnh chú bé người gỗ Pinocchio đã trở nên nổi tiếng từ những trang sách trong câu chuyện của nhà văn người Italia Carlo Collodi. Và khi bộ phim hoạt hình của hãng Walt Disney ra đời năm 1940 thì không chỉ trẻ em mà rất nhiều người lớn đã thích mê anh chàng người gỗ thú vị này. Đây là bộ phim thứ hai của hãng hoạt hình Walt Disney, sau phim Snow White and The Seven Dwarfs. Thể loại : Hoạt hình, gia đình, viễn tưởng. Thời lượng : 88 phút. Công chiếu : 23/02/1940. Đạo diễn : Ben Sharpsteen – Hamilton Luske. Biên kịch : Ted Sears – Otto Englander. Hãng sản xuất : Walt Disney Productions. Trong phim, Pinocchio là người gỗ được tạo ra bởi bác thợ mộc Geppetto. Là người gỗ nhưng cậu luôn khao khát trở thành người thật sự. Điều đặc biệt nhất ở Pinocchio là mỗi khi nói dối, chiếc mũi của cậu lại dài ra. Chú bé được yêu quý vô cùng, cho đến một ngày, cô tiên xuất hiện và ban phép màu cho chú bé được trở thành người. Nhưng Pinocchio đã phải trải qua rất nhiều thử thách để thực sự trở thành người và trở về trong vòng tay âu yếm của người cha của mình. Con người, đặc biệt là những người nhỏ bé được làm bằng gỗ, phải đối mặt với rất nhiều cám dỗ. Hẳn là phải rất thú vị khi trốn học và tìm một hòn đảo cho riêng mình để uống rượu và chơi bi-a thỏa thích. Tất cả sẽ rất tuyệt vời cho đến khi tai bạn bắt đầu dài ra, bạn mọc đuôi và kêu như một chú lừa. Không chỉ trẻ em mà các bậc phụ huynh rất kết bộ phim Pinocchio vì nó có thể là một bài học bằng hình ảnh thật sinh động cho các cô cậu nhóc nào còn ham chơi hơn ham học, nhiều lúc bướng bỉnh, không chịu nghe lời… Khi mô tả về bộ phim này, trang web Rotten Tomatoes đã trích dẫn một lời bình của một chuyên gia uy tín rằng : “Đầy tham vọng, phiêu lưu, và đôi khi đáng sợ, Pinocchio là đại diện cho đỉnh cao nhất của các phim do Disney thực hiện. Bộ phim được làm rất tuyệt vời và đầy tính cộng hưởng cảm xúc.” Pinocchio là một trong những bộ phim hay kinh điển của Disney, với nhiều thông điệp nhân văn tốt đẹp. Theo ý kiến của các chuyên gia, quá trình đưa một vật vô tri vô giác (Pinocchio) trở thành một con người thực sự chính là một cách thể hiện thông điệp ngầm về quá trình làm phim hoạt hình đem tới khán giả những câu chuyện đầy tình cảm về những đồ vật luôn bất động xung quanh, khiến cho con người trở nên yêu mến và hoà hợp với thiên nhiên hơn.

Dumbo

3836

Con cò chuyển môt bé voi con tới cho bà Jumbo, con voi sống lâu năm tại rạp xiếc, nhưng bé voi con trông thật lố với đôi tai thật sự to của cậu và bị gán cho cái tên Dumbo (trong từ “dumb” : ngốc nghếch). Sau khi bị chia tách khỏi mẹ mình, Dumbo bị tách riêng ra để diễn hề cho rạp xiếc, cậu gặp người bạn duy nhất của mình, một chú chuột, đã giúp đỡ Dumbo bộc lộ được hết tiềm năng của mình. “Dumbo” là một câu chuyện nhỏ dễ chịu, với cảm hứng chủ đạo là sự hài hước, đưa ra những nhân vật động vật với tính cách mới mẻ, và cho thấy rất nhiều kỹ thuật trong những bộ phim vẽ tay cổ điển của Walt Disney. Chúc các bạn xem phim vui vẻ !